giới thiệu nhà thơ Đỗ Quý Dũng

                                                    ĐỖ QUÝ DŨNG

               Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1947

               Nguyên quán: Quảng Cư, Kiến Giang, Lệ Thủy, Quảng Bình.

               Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình 

               Tác phẩm : Lỡ đò - nxb Thuận Hoá - 2003

Nhiều thơ in trên tuần báo Văn nghệ, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam và một số tạp chí Văn nghệ của các địa phương.

 

 

Địa chỉ Facebook của Đỗ Quý Dũng Bạn vào đây

 

 

 

Những dòng chiêm cảm

***********************

 

( Trích bài Viết của Hoàng Thái Sơn Trên trang Văn hóa- Văn nghệ Quảng Bình) 

                                                                                          ( NgocLien)

 

            (QBĐT) - Từ lâu tôi đã chú ý đến Đỗ Quý Dũng qua tập thơ Lỡ Đò (2003) và những bài in lẻ trên các báo, tạp chí. Đến tập thứ hai này, tập Người hát rong anh vừa tặng, tôi đã bị thuyết phục bởi cái mạch chảy thông suốt trong thơ anh, đó là một dòng suối trong trẻo, có chiều sâu và lắng đọng tận nguồn cội của một tâm hồn đã cố gắng tải đựng chất thơ trong thời buổi lẫn lộn quá nhiều chân và giả không biết đâu mà lần này...


             Theo dấu vết thời gian, ta thấy Đỗ Quý Dũng quy tụ vào tập thơ này những bài thơ làm gần chục năm nay, điều đó cho thấy anh rất chú tâm vào chất lượng chữ nghĩa chứ không chạy theo số lượng. Tập thơ không dày, đặc biệt hầu hết đều là bài ngắn, điều đó không là vô tình mà chính là giải bày của một nội tâm chất chứa suy nghĩ được mã hoá bằng câu chữ, vần điệu cô đọng.

Người hát rong được viết với vài giọng thơ, chủ đề, chủ thể có mặt trong mấy vai vế, là người ngắm cảnh, là đứa con thương nhớ cha mẹ, là ông già thương cháu... nhưng cái bao trùm trở đi trở lại như một nét chủ đạo trong thơ anh, là người chiêm cảm, là tính triết luận, tính khái quát nâng vấn đề lên tầm cao hơn cái nghe thấy, nhìn thấy, cảm thấy. Thế mạnh của tập thơ chính là chỗ đó, nó lấp lánh trong từng câu chữ, có hơn một nửa số bài anh lùi lại đằng sau sự kiện để gửi gắm một suy ngẫm chứ không chịu dừng lại với hiện thực cuộc sống rồi để đó cho người đọc.

Đèn và lửa nói về ba thế hệ, ông tôi, cha tôi và tôi truyền nhau ngọn lửa bao đời cũng chính là các thế hệ người truyền giữ sự sống từ thời hồng hoang cho đến hôm nay. Người chết đi, song lửa vẫn cháy sáng "Truyền qua tim nhau còn mãi với con người". Suy nghĩ về đời người, anh kết luận:

                                       Không gian vô hạn
                                       Thời gian vô hồi
                                       Mỏng manh tờ giấy
                                       Khoảnh khắc đời người.

                                                                                                          (Nghĩ về đời người)

Bài Gió, kể ra cũng không mới về tứ, đó là đối cảnh giữa làng quê khoáng mát và thành phố ngột ngạt, tuy thế Đỗ Quý Dũng có một khổ thơ khá hay:

                                           Đô thị như một ốc đảo
                                            Máy điều hoà kiệt sức
                                           Luân chuyển luồng khí nóng 
                                            thị trường cho nhau.

Từ khí nóng thiên nhiên anh liên tưởng sang khí nóng thị trường là rất mới và hay. Đọc câu thơ, tôi giật mình nghĩ mình cũng đang bị cuốn đi trong vòng xoáy của đời sống thị trường đến chóng mặt. Bài thơ ngắn nhưng ý thơ rộng, khái quát cao về hiện trạng cuộc sống đối cảnh giữa phố và làng, giữa chật và rộng, giữa yên ả và hối hả tất tưởi, nóng bức. Đỗ Quý Dũng không rời suy tư khi nhìn vào bất kì nơi đâu. Thấy một người hát rong, anh mô tả, rồi cảm khái:

                                       Ngả nghiêng trên chính 
                                                                           chân mình
                                       Mấp mô ngày tháng nổi chìm 
                                                                             nắng mưa
                                       Sông đời một chuyến đò đưa
                                       Mười hai bến nước vẫn chưa 
                                                                                   cập bờ!

                                                                                                      (Người hát rong)

Đến đây ta hiểu ra anh không chỉ nói riêng một người hành khất, mà trong đó có bóng dáng hết thảy người đời, và hoá ra ai chẳng phải là hành khất trên cõi nhân gian. "Ngả nghiêng trên chính chân mình", câu thơ thần tình đầy chiêm nghiệm: giàu, nghèo, sang, hèn... đều ngả nghiêng trên từng số phận chẳng hơn chi nhau đâu. Tính khái quát của vấn đề rất cao là thế; và nếu bài thơ không có được những câu thơ như thế thì không có gì hết. Đó là cái mạnh của tác giả khuôn thành nét riêng cho một cây bút mà ta quen gọi là cá tính sáng tạo.

Cái tạng triết lí của anh bộc lộ ngay cả một bài tả cảnh. Lên Tam Đảo, anh làm thơ về cảnh đẹp Tam Đảo, nhưng vẫn đồi thấp, núi cao thành ra cái cao thấp sự đời, nhà thấp nhà cao, mây núi chồng nhau hoá ra là cuộc chen lấn ăn ở:

                                             Mà chờ 
                                             ngắm cảnh bình minh
                                                      Mà nhìn
                                                            cao thấp
                                                                đời mình đời ta
                                              Phố chồng phố
                                                     nhà chồng nhà
                                                          Mây trườn lên núi
                                                             núi nhoà trong mây.

                                                                                                                (Thân phận)

Nhìn những sợi tơ hồng, một loài dây leo sặc sỡ bám lên cây cối, sống nhờ thiên hạ, nó đẹp đấy, nên thơ đấy, cơ mà nó tàn độc lắm như lũ ăn bám xã hội, làm ruỗng nát cây đời rất cần lên án:

                                           Những dây tơ hồng
                                           Sinh sôi nảy nở
                                           Khô héo cúc tần, tầm vông.

                                                                                                                       (Tơ hồng)

Đỗ Quý Dũng ít nhiều đã có con mắt tinh đời khi lột ra được cái người khác bỏ qua không thấy. Có tới mấy bài thơ anh viết về đồng đội xưa lúc chiến tranh cùng nhau cầm súng bây giờ kẻ sống lên lão, kẻ chết vẫn trẻ mãi với tháng năm. Ngã ba Đồng Lộc ai còn lạ gì, ai cũng đã từng đến đó đặt một nén tâm hương cho những cô gái hi sinh vì sự sống con đường; nhưng anh nhìn thấy một góc khuất rất nên thơ, rất cảm động không ai nhìn thấy:

                                      Các em ra  mặt đường cả rồi
                                      Chỗ tôi ngồi
                                      Những chiếc gương tròn  
                                                                nghiêng mặt
                                      Những chiếc lược ngà
                                      không vương một sợi tóc!

                                                                                                    (Khóc với rừng xanh)

Nếu được chọn những câu thơ hay, tôi xin chọn những câu như thế, bởi nó làm ta xúc động, bâng khuâng như hình dung thấy những gương mặt thanh xuân đã ngã xuống qua những gì họ còn để lại. Xem phim có cảnh thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, vì muốn có chân kinh, họ đã phải lấy bát tộ vàng làm quà lót tay, khiến không chỉ Ngộ Không kinh ngạc, Bát Giới phì cười mà ngay cả với chú ngựa đồng hành cũng tức tối:

                                        Con ngựa bạch
                                        Giẫm chân xuống đất
                                        Ngửa mặt nhìn trời...

                                                                                                                (Tây Trúc)
Dĩ nhiên điều tác giả muốn nói là chuyện ngàn năm trước vẫn là câu chuyện hôm nay trong cuộc sống phức tạp tham nhũng, hối lộ tràn lan.

Tác giả có lúc như một nghệ sĩ thực thụ làm thơ suy nghĩ về cái nghiệp của dân làm văn nghệ. Trong bài Cái đẹp, anh vẽ ra mấy chàng hoạ sĩ, thi sĩ bàn cãi về nghệ thuật là gì với nào trường phái ấn tượng, siêu hình... nhưng nói gì thì nói, cuối cùng anh phải thừa nhận hiện thực. Họ bàn bạc, tranh luận, mặc sức, trong lúc bà cụ vẫn ngồi nhai trầu, một cô gái đẹp ngang qua, thế là cả bọn reo lên cùng một con mắt nhìn hiện thực "Người đâu mà đẹp như tiên".

Thơ Đỗ Quý Dũng quả là đã có nét riêng, tập trung nhất là tính triết lí từ những vần thơ vừa sâu vừa hóm với lối viết của người viết cách ngôn không quen nói dài dòng dây nhợ. Đó là lối thơ chữ ít tình nhiều, cô đúc. Chưa có bài hay nhưng tác giả này đã có những câu thơ hay.

Trong biển thơ hôm nay mênh mông vô bờ và rối rắm với hay và dở với chân và giả với các trào lưu vay mượn thiên hạ đã bỏ lại trên con đường thơ... có được những vần thơ như thơ Đỗ Quý Dũng trong Người hát rong là rất đáng trân trọng; và bởi vậy, tôi xin trân trọng giới thiệu tập thơ với bạn đọc.

                                                                                             Hoàng Thái Sơn

(Nhân đọc Người hát rong, Thơ Đỗ Quý Dũng, Nxb Thuận Hoá, 2011)

 

 

 

 

          Bến đò Chền cũng như nhiều bến đò khác trên dòng Kiến giang thơ mọng . Là nổi nhớ, là những kỷ niệm đẹp trong ký ức của nhiều thế hệ người Lệ Thủy. Bến đò chở đầy kỷ niệm đẹp đã đi vào rất nhiều thơ ca nhạc họa...Cầu mới đẹp, hiện đại đã bắc ngang dòng Kiến Giang...Nếu bạn trở về thăm quê hương xứ Lệ, hãy trỡ lại cùng với Đỗ Quý Dũng trên bến đò Chền năm nao, người đã lỡ chuyến đò năm ấy...

 

               Lỡ đò

 

Tìm về thăm lại trường xưa

Nao nao phượng rụng giữa trưa nắng vàng

Đò Chền vãn khách sang ngang

Sân trường áo trắng rộn ràng tiếng ve

 

Lênh đênh mấy chục mùa hè

Nôn nao nhớ bến sông quê đợi đò

Muộn giờ canh cánh nỗi lo

Trời xui em cũng lỡ đò giống tôi

Nào ngờ trễ học có đôi

Để từ hôm ấy bồi hồi nhớ mong...

 

Giờ về ngó bến ngó sông

Gặp thầy gặp bạn vẫn trông lỡ đò.

 

 

                                    Đỗ Quý Dũng

 

 

.

 

 

 

 

  Giấc mơ dưới góc cây bồ đề

 

 


Dưới gốc cây bồ đề Trường Sơn

Ngồi uống rượu suông với đồng đội

Nhập ngũ một thời cùng chung sáp tuổi

Sao chúng mày gọi tao bằng ông ?

Có phải chúng mày quên tao rồi không ?

Thằng ” còi ” ngày xưa

               ( Đại đội mình thường gọi )

Phải rồi

Năm nay tao đã ngoài sáu chục tuổi

Còn chúng mày vẫn độ hai mươi

Uống đi

Uống nữa đi - đồng đội ơi !

Rượu miền trung nặng gió lào và nắng

Say một tý trong phút giây yên lặng

Ai trách ta đâu mà phải dè chừng

Nào nâng li

Hết nhé trăm phần trăm...

Vui gặp nhau sao chúng mình đều khóc

Những gương mặt nhòa trong nước mắt

Đồng đội ơi !

                     Đồng đội có mô rồi !...

 

                         Đỗ Quý Dũng

                 Nghĩa trang Trường Sơn 1/2008

 

 

 

             Ngày 21 tháng 12 năm 2009 kênh VOV đài tiếng nói Việt Nam đăng bài " Khóc với rừng xanh " của anh. Tưởng nhớ 10 cô gái TNXP đã huy sinh tại ngã ba Đồng Lộc. Bài thơ là một nén hương tưởng niệm là  tri ân với những người đã huy sinh cả tuổi thanh xuân cho tổ quốc.

 

 

 

 

 

ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI

 

Đi bộ bảy ngày đường

Qua làng Ho, vượt Ngàn Lẻ Một

Gió Lào cháy mặt

Thung lũng hầm hập như chảo rang

 

Đường Trường Sơn tôi và bạn hành quân

Bãi khách cũ, bây giờ gai chằng chịt

Gốc cây đỉnh đèo vết khắc đầy chi chít

Những tên họ trăm quê nhựa chảy rưng rưng...

 

…Ở nơi này bạn có nghỉ chân?

Gió thoang thoảng mơn man nghe lạ lắm…

Nén hương trầm gửi về tám hướng

Bạn ở nơi nào hãy báo để tôi hay?

 

Hơn hai chục năm nằm lại ở đất này

Bạn chẳng được bình yên trong giấc ngủ

Như lửa đốt trong lòng người lính cũ

Chúng tôi lại lên đường tìm bạn giữa Trường Sơn

 

…Đã một thời đêm rét chung chăn*

Khói thuốc Lào chia nhau từng đoạn

Thương nhau nhiều, thôi đừng hờn giận

Lật lá chỉ đường cho gặp bạn bạn ơi!

 

                                             1992

 

……………………………………….

                                           * Ý thơ Chính Hữu

 

 


Ngày 25/6/2009 tạp chí Sông Hương giới thiệu 02 bài thơ của Đỗ Quý Dũng; Khóc thay nàng Kiều & Nhớ một khoảng trời...

 

 

 

 

 

 

CHA TÔI VÀ ĐÀN CHIM

 

Cha lầm lũi theo bước chân trâu

Gió lào bỏng rát

Đôi bàn tay cháy màu đồng hun

Mồ hôi ướt đầm gương mặt

 

Bờ tre bên đường ngọt ngào bóng mát

Đầy ắp tiếng chim

Lích kích chim sâu

Chào mào lảnh lót

họa mi véo von

Có chú khướu dẻo mồm bắt chước

Muốn hát hay hơn tất cả các loài…

 

Hình như lũ chim muốn rủ cha tôi

Bỏ ruộng cày vào ngồi hóng mát

Hình như lủ chim cười cha tôi

Người biết làm mà không biết hát

 

Cha tôi mồ hôi ướt đầm gương mặt

Người bước đi mở những đường cày

Những con chim ngày mùa nhặt thóc

Vẫn ríu rít trong vòm cây.

 

                               Đỗ Quý Dũng

 

 

.

 

 

 

 

 

MẸ

 

Tôi mơ ước leo lên chót vót cao đỉnh núi

Hái hoa mặt trời

Rực rỡ và kỳ ảo bảy sắc cầu vồng

Thiên hạ một thoáng ngỡ ngàng, ngưỡng vọng

 

Mẹ tôi mải mê gieo hạt xuống đồng

Bốn mùa chăm bón

Những cây lúa dầm mưa dãi nắng

Mọc lên những hạt vàng

 

Suốt cuộc đời lầm lụi trên đồng

Trên đầu mẹ không có hào quang

Trên ngực mẹ không bông hoa rực rỡ

Mẹ chỉ thanh thản nở nụ cười

Khi bát cơm của con ngọt ngào hương sữa

 

Sau cơn mưa

Nhìn lên bầu trời

Bảy sắc cầu vồng không còn nữa.

 

 

 

 

 

QUÊ MẸ MIỀN TRUNG

Mẹ ơi nước mắt chưa khô
Bão lòng chưa tắt sóng xô bạc đầu
Nổi chìm bao cuộc bể dâu
Quan tài bơi giữa nước sâu bão gầm
Bàn tay nhăn nhúm chai sần
Một đời gom nhặt lại thành trắng tay
Trời cao ơi ! hỡi đất dày !
Mẹ tôi gánh chịu đắng cay bao đời ?
Nghe đài báo bão ngoài khơi
Ruột gan quặn thắt
Mẹ ơi !
quê mình .

 
9-11-2013
QD

 

 

 

 

 

 

 

 

                         Hạt lúa đen

 

Vẫn biết rằng hạt lúa vàng thơm

Nhưng hạt lúa quê tôi vụ này đen thẩm

Cầm nắm thóc trên tay

Mẹ ngao ngán thở dài

Mắt cha thâm quầng đờ đẫn

 

Vẫn biết mất mùa do thiên tai

Cơn lũ tháng tư

Cánh đồng vàng trở thành biển trắng

Cha thầm mong nước đồng rút sớm

Mẹ thẩn thờ nhìn đồng nước mênh mông

 

Nợ nước, nợ phân, bao thứ nợ chất chồng

Những hạt lúa đen quặn lòng người gieo giống

Mẹ đội lúa đi chợ chiều chợ sớm

Lại đội lúa về thất thểu bước run run

 

Hạt lúa mùa nuôi hạt lúa chiêm xuân

Thiếu nước thiếu phân vì hẩm hiu hạt lúa

Đặt mâm cơm lên bàn thờ Tổ

Mắt mẹ ướt nhòa

 

Tự thuở Vua Hùng lúa đã nuôi ta

Có đôi lần mẹ nuôi con bằng củ nâu, củ chuối

Cũng có người chưa một lần biết đói

Thừa ngọt ngào đâu dễ quên cơm

 

Ơi hạt lúa vàng, ơi hạt lúa đen !

Dòng sữa trường sinh người chia đều hết thảy

Mọi cuộc đời nhờ người mà lớn dậy

Đen đỏ tùy lòng, trách cứ ai đâu.

 

 

 

.

 

 

 

LỜI RU THÀNH CỔ

 

Xin đừng nói quá to

Đồng đội tôi đang ngủ

Tám mươi mốt ngày đêm

             chiến đấu với quân thù

Đạn xé bom gào

             Không thể nào chợp mắt

Hảy ngủ thêm đi

             đất mẹ hát lời ru

Đừng chụp ảnh

             Xin hảy đừng chụp ảnh

Đồng đội tôi hòa quyện với đất trời

Mấy ngàn người đều có chung khuôn mặt

Rất trẻ trung ở lứa tuổi đôi mươi

 

Xin đừng khóc

              nước mắt đâu cho đủ

Hảy chăm lo cho mẹ cho bà

Những con người nuôi lớn khôn đồng đội

Trọn cuộc đời khắc khoải đợi con về.

 

                     Quảng Trị, ngày 26/4/2011

                                 Đỗ Quý Dũng

 

 

.

 

 

 

 

                                      QUÁ KHỨ

 

Trên con tàu hướng về miền đất lạ

Hiện tại như bóng câu vụt qua cửa sổ

Tương lai thành hiện tại

Rồi trôi tuột vào thời gian

Quá khứ sâu hun hút

Một thoáng bần thần ...

 

Hiện tại là bữa đang ăn

Sau bũa ăn là tương lai

Trước bữa ăn là quá khứ

Ta như kẻ bị đánh lừa ngôn ngữ

Không biết mình ở đâu ...

 

Quá khứ cho ta lớn khôn

Hiện tại khiến ta nhọc nhằn

Tương lai làm ta khắc khoải

Một đời lầm lũi

Gieo hạt vào trầm tích quá khứ

Bồn chồn đợi một màu hoa

 

                                      4/2011

                                   Đỗ Quý Dũng

 

 

.

SAY THƠ

 


Người chế nhạo ta ngu ngơ sự thế
Lỡ say thơ ta mụ mẫm tâm hồn
Quả chín đầu cành nào có biết
Tìm vườn đào có trái cấm A- Đam

Thơ mộng du dắt ta về xóm vắng
Tiếng mõ trâu khắc khoải gọi mục đồng
Tre hoan hỉ đu mình với gió
Vạt cỏ mềm ôm ta ngủ triền sông

Đời nóng quá thơ ta lạnh quá
Thơ đắp cho đời có hạ sốt tí nào chăng
Đùa cho vui mà đời nỗi giận
Thơ đưa ta đi trốn xứ chị Hằng

Trời xui khiến ta với thơ một cặp
Chốn cao sang xin cáo biệt ngàn lần
Say nhau rồi dẫu cùng trời cuối đất
Khất thực ngôn từ nguyện mãi cam tâm

Đêm 16-11-2013 Q - D

 

 

Video thuộc bản quyền Dương Ngọc Liên, thực hiện tại trại sáng tác Tam Đảo 2009.

 

 

ÂN TÌNH SAU LŨY TRE XANH

 

Quanh năm sau lũy tre làng

Với cày với cuốc ngỡ ngàng bán buôn

Chưa quen cơ chế thị trường

Nông nhàn ra chốn phố phường làm thêm

Kẻ mướn ngày, người thuê đêm

Ai bớt cũng gật, ai khen cũng ừ

Thương nhà mái dột phên hư

Con vào đại học mà chưa có tiền

Thương sào lúa mới vụ chiêm

Thiếu phân bón thúc cho nên cỗi cằn

Thôi thì trăm thứ nhọc nhằn

Chất chồng lên tấm lưng oằn nhà nông

Sang hèn coi cũng như không

Vẫn mê Văn nghệ “ văn gừng” như ai

Vẫn lên sân khấu thi tài

Í ơi điệu lý, khoan thai giọng hò

Cơm còn bữa đói, bữa no

Một nhà hoạn nạn cùng lo cả làng

Nhớ khi thất bát mùa màng

Củ khoai nắm gạo sẻ san từng ngày

Buồn vui tâm sự giải bày

Giận hờn mấy, cũng bắt tay làm lành

Ân tình sau lũy tre xanh

Bao đời vun xới, mới thành nhà nông.

 

 


 

 

XEM HỘI ĐUA THUYỀN

 

Những chiếc thuyền áo đỏ áo xanh

Trai đua sẵn sàng bắp thịt tròn cuồn cuộn

Súng lệnh nổ thuyền lao như tên bắn

Sóng xô bờ và biển nón nhấp nhô

 

Em đến bên anh chẳng hiểu tự bao giờ

Không đua thuyền sao em khản giọng

Tóc bết mồ hôi, tay nghiêng nón mỏng

Nón gãy vành rồi – em bẽn lẽn tìm anh…

 

Mõ rộn ràng, trống dục ngũ liên

Thuyền xé nước tiếng reo hò dậy đất

Bao thuyền đua chỉ một thuyền về nhất

Dẫu nón nón gãy vành vẫn có chiếc về sau

Sông lại bình yên xanh ngắt một màu

Trên mặt nước dấu vết hơn thua không để lại

Chiếc nón gãy vành nghiêng nghiêng em đội

Cứ làm ngơ ngẩn hồn anh.

 

                                       Đỗ Quý Dũng 1991

 

 

SỐ ÂM

 

Người là lá cành

Tôi là rễ

Người cao thêm một tí

Tôi lặn xuống vài phân

Người ngập tràn nắng

Tôi trong tối tăm

 

Có phải:

            Tôi

                      Số âm?

 

        Đỗ Quý Dũng

        Nha Trang 6/2003

 

Trang " Người Lệ Thủy" đăng bài Quê mình của Đỗ Quý Dũng

 

 

 

         ĐIÊN

 

Người ta bảo hắn điên

thường lang thang đây đó

Cõng chiếc ba lô sờn nắng gió

Như mọi người

Trong ngực hắn có một trái tim

 

Thấy hắn thơ thẩn một mình

Trước con kênh

           Làm xong mười năm

                   Không dòng nước chảy

Ghi chép điều gì

           chẳng ai nhìn thấy

Chú ý làm gì - đồ điên!

 

Hắn lầm lụi gieo hạt trên vườn ươm

Làm giàn che nắng cho cây

                        giữa trưa đứng bóng

Người qua đường

                 buông một tiếng:

                                 Thằng điên!

 

Nhặt được túi tiền

Hắn ngồi lại bên đường

Lục giấy tờ địa chỉ

Tìm trả lại người đánh rơi

Rỏ là điên thật rồi!

 

Có thể hắn hắn điên thật rồi

Nhưng tôi tin:

             Máu trong tim hắn

             đỏ hơn máu ở tim tôi…!

 

 

 

 

 

 

NGÔN TỪ

 

Ngôn từ như hoa lá

sắc như thể hái liềm

Như thể là dao búa

Như dược độc thuốc tiên

 

Có lời nói gió bay

Vào không gian tĩnh lặng

Ai nói để lòng say

Vợi bao điều cay đắng

 

Lời nói không mất tiền

Mà quý hơn vàng bạc

Một lời khuyên chân thành

Hơn ngàn lời chúc phúc

 

Biết bao điều đơm đặt

Gắp lửa bỏ tay người

“ Lời nói là đọi máu”

Oan trái lắm ơi trời!

 

Thôi – đã trót yêu đời

Xin một điều nguyện ước

Hãy nói lời trung thực

Cho con người - người hơn.

 

 

 

 

 

 

 

NHỚ MỘT KHOẢNG TRỜI

        Tặng em người lính Trường sơn

 

Tưởng là xưa cũ đã quên

Tưởng là năm tháng phủ mềm rêu xanh

Trái tim lính tưởng đã yên

Vết thương thời chiến tuởng liền thịt da

Chỉ là cứ tưởng thôi mà

Máu xương đâu dễ phai nhòa người ơi!

Diết da nhớ một khoảng trời

Lung linh mắt lá tiếng cười trong veo

Nhớ em cõng nước qua đèo

Mồ hôi ướt mũ tai bèo trên tay

Nhớ cơn sốt giữa rừng dày

Chăn dù không đủ đắp đầy cơn run

Mấy ngày hết gạo đói cơm

Gọng rau, tai nấm thảo thơm em nhường

Chao ơi!

Thương đến lạ lùng

Tóc em khô rụng

                       Rưng rưng lá cành

Đâu rồi mười tám xuân xanh

Đâu rồi ánh mắt nhìn anh dỗi hờn

Khoảng trời da diết Trường sơn

Chợt vui khi nắng, chợt buồn khi mưa.

 

                                             11-8-2003

 

.

Bài viết của thầy Trương Tán về tập thơ “ Lỡ đò” của Q.Dũng

Đọc Lỡ đò của Quý Dũng

                                                       Quảng Tấn 

                                                                       

 

       Rồi Quý Dũng cũng nhớ và ghi lại một số bài thơ của mình làm một tập với cái tên Lỡ đò để góp vui với bầu bạn.. Vào đời, anh mong sao cho vụ mùa bội thu, đàn lợn, đàn gà tăng cân, nhiều trứng với tri thức của một kỹ sư chính mác Hà Nội. Rồi miền Nam gọi, anh cầm súng. Người lính thực thụ, nhỏ con ấy tung hoành từ chiến trường Khe Sanh, Do Linh, Cửa Tùng đến Nam Lào, bản Đông, Hải Vân...đến ngày toàn thắng . Gác súng, anh lại trở về với nghề cũ, rồi chuyển sang  lo việc Tổ chức- lao động, thương binh xã hội của huyện nhà với trách nhiệm trưởng phòng. Giờ đây, anh là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị.

       Những chặng đường qua lắm cắc cớ in hình vào những ghi chép của anh. Anh viết lại những gì không thể không viết với những cảm xúc chân thành; từ đó mà thành thơ.

       Thơ của Quý Dũng cũng xoay quanh cái trục tình yêu như bao người làm thơ khác. Đất nước, quê hương, người thân, đồng đội trong thơ anh được thể hiện bằng những đường nét, gam màu riêng.

       Trong “Lỡ đò”, quê hương của Quý Dũng không có chùm khế ngọt, không có cánh diều cao vút chiều thu, không có tiếng sơn ca lanh lảnh khi mùa chín tới. Quê anh là vùng chiêm trũng “nhiều nỗi đắng cay”. ở đó

                             "Lúa có đồng đồng đã lo nước ngập "

                             "Trâu cày phải có hai con"

                                                                            (Quê mình)

       Người nông dân ở vùng quê ấy không chỉ “một nắng hai sương” mà “chớp đằng đông, vừa trông, vừa chạy” (tục ngữ) để đương đầu với bão tố bất thần ập đến; nhiều năm, nhiều vụ gây nên

                              "Cơn lũ tháng tư

                               Cánh đồng vàng trở thành biển trắng"

       Bông lúa vàng bị quăng quật, dày xéo, may còn sót lại “hạt lúa đen”. Đến kỳ

                             "Đặt mâm lên bàn thờ tiên tổ

                              Mắt mẹ ướt nhòa"

                                                                            (Hạt lúa đen)

       Sống nghiệt ngã đến vậy mà khi nhắm mắt xuôi tay, con người cũng bị lũ bão săn đuổi, bầm dập.

                            "Những con thuyền đưa người đã khuất

                                    Sóng xô rát nắp quan tài"

                                                                             (Quê mình)

       Dù vậy, anh tha thiết một tình yêu quê, tình yêu trong “gừng cay, muối mặn”. Bao nhiêu năm xa quê, anh vẫn một niềm canh cánh.

                            "Lênh đênh mấy chục mùa hè,

                             Nôn nao nhớ bến sông quê đợi đò"

                                                                                  (Lỡ đò)

       Quê hương ấy đã làm nên một Quý Dũng dạn dày, trầm tĩnh, lắng đọng yêu thương, trước hết là thương yêu gia đình. Là đứa con thứ bảy trong chín người con của một gia đình nông dân chân chất, anh đã cùng gia đình trải qua đến tột cùng của cái nghèo, cái đói. Tất cả trông chờ chủ yếu vào tay cày của người cha. Ngôn ngữ thơ anh khắc họa người cha kính yêu của mình như chính ông ngoài đời

                              "Cha lầm lũi theo bước chân trâu

                               Gió lào bỏng rát

                Đôi bàn tay cháy đen màu đồng hun

                               Mồ hôi ướt đầm gương mặt"

                                                                  (Cha tôi và đàn chim)

       Anh hạ một câu thơ - Không phải thơ - một nhát dao làm rỏ máu trái tim đứa con hiếu thảo. "Người chỉ biết làm mà không biết hát"

       Hát làm sao được khi người thợ cày trông chờ vào hạt lúa, và chỉ có hạt lúa, ấy thế mà cầm “hạt lúa đen” trên tay

                                      "Mẹ ngao ngán thở dài

                                       Mắt cha thâm quầng đờ đẫn"

       Diễm phúc cho những người con khi mẹ cha mình đồng cam cộng khổ, thuận vợ thuận chồng. Quý Dũng có được diễm phúc ấy. Anh em thường bảo nhau

                                       "Mẹ của chúng mình

                                        Tháng năm đi làm đồng sâu

                                        Tháng mười đi gặt ruộng cạn"

                                                                    (Dưới tàu lá chuối)

       Bình thường, toan tính cho mười một miệng ăn có ngày hai bữa, người mẹ hiền từ ấy phải đồng cạn, đồng sâu, chợ sớm, chợ chiều chưa nói đến những lúc phong ba, những tháng năm bom trên, đạn dưới. Quý Dũng ghi lại bóng hình của mẹ tần tảo, thương khó

                                       "Mẹ đội lúa đi chợ chiều, chợ sáng

                                        Lại đội lúa về, thất thểu bước chân run"

                                                                                      (Hạt lúa đen)

       Cho đến lúc con trai, con gái đã thành ông, thành bà, mẹ cũng chắt chiu, dành dụm, bòn mót tất cả cho con. Tình mẹ ấy được người con gửi vào trong một ý thơ - một tiếng lòng sâu nặng

                                        "Trong đôi mắt của mẹ

                                          Còn giọt long lanh nào

                                          Cũng trao hết cho con"

                                                                   (Của hồi môn)

       Vâng! Không có của hồi môn nào đẹp hơn, quý giá hơn bằng “giọt nước mắt” chắt ra từ cả cuộc đời, của đức hy sinh đến tận cùng của người mẹ yêu quý.

       Quý Dũng thừa hưởng của người cha khuôn mặt chữ điền rắn rỏi, cương nghị; thừa hưởng của người mẹ đôi mắt hạt dẻ tha thiết, thủy chung. Hơn cả, anh là phiên bản của tâm hồn mẹ cha: Anh em thuận hòa, tình thâm cốt nhục. Giờ đây đã có cháu nội, cháu ngoại, anh em vẫn không nguôi ngoai thời khốn khó, tuổi thơ trẻ, dắt díu nhau

                                        "Anh cõng em sang nhà hàng xóm

                                          Tàu lá chuối vườn

                                          Che anh em mình đỡ nắng"

                                                                    (Tàu lá chuối)

       Có gì để chơi? Có gì hơn đối với những đứa con nông dân nghèo? Anh em Quý Dũng còn nhớ

                                        "Cha chúng mình người rất yêu con

                                         Đi cày về đều có quà nho nhỏ

                                         Chú đam Kềng đôi càng nâu đỏ

                                         Anh buộc dây vào bắt nó làm trâu

                                         Thích quá em cười, cha cũng cười theo"

                                                                             (Tàu lá chuối)

       Tàu lá chuối che đầu, con đam kềng làm trâu; nhỏ nhoi, bình thường vậy thôi mà nó khắc vào tâm khảm cái tình, cái niềm vui theo suốt cuộc đời. Năm câu thơ ngắn, như kể, như nói mà tạo dựng một bức tranh hạnh phúc, khó tìm thấy trong thời hiện đại. Mỗi chúng ta là những đứa con. Rồi chúng ta làm cha, làm mẹ. Ta hãy nghe tiếng lòng của người cha - Quý Dũng

                                         "Rời vòng tay mẹ yêu thương,

                                           Chênh vênh trên mỗi bước đường con qua

                                           Sang giàu chuyện của người ta

                                           Con lo tìm việc

                                                              tìm nhà

                                                                        tìm cơm"

                                                                                  (Ru con)

       Câu bát ngắt làm ba, tắc nghẹn, quặn đau như lòng người cha cắt lìa từng khúc. Quý Dũng nói với con mình mà nói thay cho mỗi người chúng ta, cho những ai có đứa con yêu phải tha phương cầu thực “ngu ngơ”, “nổi chìm” giữa chốn “phù hoa”.

       Quả là lòng yêu nhà, yêu miền quê làm nên lòng yêu Tổ quốc. Tình yêu thiêng liêng ấy được người viết thử thách qua lửa đạn chiến tranh. Quý Dũng đã đi, đã đến nhiều nơi. Không phải như những khách tham quan để chiêm ngưỡng, hưởng lạc mà anh chiêm nghiệm, suy ngẫm. Đến Đồ Sơn, anh cảm nhận

                                      "Một nét nghiêng Đà Lạt

                                       Một nét trầm Nha Trang

                                       Một nét xô bồ cửa Lò, Bãi Cháy

                                       Làm nên Đồ Sơn"

       Anh tham quan Phong Nha; cô gái dẫn  đường đưa anh lên hang tiên. Mãi vòng quanh, không tìm thấy đường lên; cô gái khóc, anh an ủi

                                       "Đừng khóc em ơi

                                        Anh dẫn đường đưa em về trần thế

                                        Nơi có bếp lửa hồng

                                        ấm tình của mẹ

                                        Cõi tiên - một kiếp - người qua"

                                                                         (Cô gái dẫn đường)

       Vậy đó! Đất nước, tổ quốc trong thơ anh bao giờ cũng khắc khoải hoài niệm, suy tư của riêng mình. Để rồi

                                       "Một sáng Cao Bằng

                                        Bác Hồ ôm hôn nắm đất

                                        Ta bỗng hiểu

                                        Người là Tổ quốc yêu thương"

                                                                             (Tổ quốc)

       ý thơ rung nhẹ mà tha thiết tiếng đàn bầu lay động hồn đất nước mà người phục sinh Tổ quốc là Đảng của chúng ta và người sáng lập ra Đảng.

       Cũng với cách nghĩ rất riêng ấy, Quý Dũng biểu đạt lòng kính yêu của mình với Bác Hồ không giống ai. Với bài “hành trình trái tim”, anh lí giải một lộ trình của tình cảm qua trục đối lưu: Trái tim. Trên lộ trình ấy, Bác đến với nhân dân bằng “nắm gạo của Người tiết kiệm” cái năm dân ta đói, rách; bằng “quả táo đời thường” để dành sau bữa tiệc như người bà, người ông...Nhân dân đến với Người với “nắm lá rừng” lúc Người bị cơn sốt rét hành hạ; với “tấm áo len” tặng Người giữa ngày đông giá rét...công nghệ thông tin thông thường của thơ là từ hình tượng thẩm mỹ nghệ thuật động thức cái chân tâm. Quý Dũng ngược lại, từ cái chân, cái thực tạo nên sự hoàn mỹ của cái Đẹp. Cái đẹp như thấy được, sờ được, nắm được, làm cho nó đậm hơn, sâu hơn.

       Với phong cách như vậy, thơ Quý Dũng đề cập đến những cảnh đời, những số phận mà anh bắt gặp: chị vợ liệt sỹ, đứa con tìm cha, người thợ hồ, em bé bán dạo...Anh giành nhiều tâm sự với đồng đội của mình.

       Khi nghe “tiếng sấm đầu mùa”, khi “xem một đêm chiếu phim”, khi “thêm một mùa xuân”, khi “nhớ một khoảng trời”...trong anh day dứt một thời đau thương, một thời oanh liệt.

       Tết đến "Ngồi nhấp ly rượu nóng

                     Bùi ngùi nhớ bạn bè

                     Đứa nằm trên sườn dốc

                     Đứa nằm lại bờ khe"

                                  (Thêm một mùa xuân)

       Và anh đã qua bao lần “đi tìm đồng đội”; ước vọng đưa bạn bè về với cha, mẹ, vợ, con, sưởi ấm những linh hồn

                

                  "Hơn hai chục năm, nằm lại mảnh đất này

                    Bạn chẳng được bình yên trong giấc ngủ

                    Như lửa đốt trong lòng người lính cũ

                    Chúng tôi lại lên đường tìm bạn giữa Trường Sơn"

       Nỗi nhớ, nỗi thương canh cánh trong con người, trong thơ Quý Dũng. Không phải ngẫu nhiên mà anh khép tập thơ của mình lại với bài “nhớ một khoảng trời”

"Khoảng trời da diết Trường Sơn

Chợt vui khi nắng, chợt buồn khi mưa"

       Nếu ta không nhầm thì tập “Lỡ đò” của Quý Dũng mang tính tự bạch, như những lời tự bạch. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tâm sự "yếu tố giúp tôi thành công là: phải sống thật với chính mình... thật đến nỗi vắt kiệt chính mình, phơi bày tận cùng cái xấu, cái tốt, cái đẹp, cái phù phiếm của chính mình. Và lúc đó, thơ chính là tấm gương soi phản chiếu tâm hồn mình vô cùng chân thực. Tôi soi thấy tôi trong thơ tôi trước khi những người khác bắt gặp chính họ trong thơ tôi" (Văn nghệ trẻ ngày 4/10/2003 T.10)

       Quý Dũng viết thơ bởi dùng phương tiện ngắn, gọn, ít lời để ghi lại xúc cảm của mình, viết cho mình. Vì vậy thơ của anh là tấm gương soi tâm hồn, cuộc sống của anh, trung thực thứ thiệt đến trăm phần trăm. “Lỡ đò” không có màu mè, mùi mẫn, ướt át. Thơ tình của Quý Dũng là tình đời, tình người áo vải, chân chất đang vật lộn, bươn trãi, mưu sinh. 

       Để thể hiện tâm tình đó, như con chim cu gáy, anh có riêng mình một giọng điệu - cả giọng điệu trong đời sống - dù người ta có làm cho lồng đẹp, ăn ngon thì chim cu vẫn không như sáo, chàng làng, chèo bẻo nhại đủ thứ tiếng, ton hót để làm vui lòng chủ. Anh cũng không lặp lại chính mình cả thể thức, câu tứ, vần điệu. Anh đưa cả ngôn ngữ chính luận vào thơ, ví như

                              "Thiên nhiên vốn khắt khe là thế

                                Nét thanh cao xen lẫn thấp hèn

                                Để hồng vẫn là hồng, sen vẫn là sen"

                                                                         (Đời thường)

       Bạn đọc thấy thơ Quý Dũng mang tính triết lý là thế, triết lý mà không lên gân. Triết lý mà chuyển tải được nhân tình thế thái, vẫn là âm hưởng trữ tình.

       Gấp tập thơ, người đọc có cảm nhận như anh cảm nhận. Có một cái gì đó còn tức tưởi, chông chênh. Có lẽ, tính nghề nghiệp đổ bóng vào thơ anh. Nhiều bài thơ như quy trình kỹ thuật khép kín, tròn trịa. Tính kỹ thuật ấy làm cho thơ anh chưa rộng mở, chưa tạo nên được dư ba vốn là sức lan tỏa của thơ. Anh cũng chưa chú ý nhiều gọt dũa cho thơ nên có câu, có từ còn thô cứng, hạn chế sức biểu đạt. Chính anh cũng nhận rằng: "mình chỉ là kẻ ăn mày thơ đấy thôi". Anh đang

                                     "Tập tễnh đi trên cánh đồng thơ

                                       Sau mùa gặt của thi nhân tiền bối

                                       Ta gom nhặt hạt còn sót lại

                                       Lấp vùi trong cát, đất chua phèn"

                                                                            (Ăn mày thơ)

       Thời gian và dư luận chưa đủ để thẩm bình “Lỡ đò”, để định vị giá trị của thơ Quý Dũng. Người viết bài này cũng mới là trực cảm, khó để tránh khỏi ngộ nhận.

Điều mà ta có thể khẳng định rằng Quý Dũng viết thơ chứ chưa chú ý làm thơ. Vốn không lấy thơ làm cứu cánh nên anh

                                      "Hãy nói lời trung thực

                                        Cho con người - người hơn"

                                                                            (Ngôn từ)

       Đời thực làm nên thơ Quý Dũng. Thơ anh lại về với cuộc đời như hạt giống lại trở về với đất để rồi sinh nở.

                                                        

                                                                                      Lệ Thủy 27/12/2003  

 

Địa chỉ: Trương Tán

Xuân giang, Kiến giang

Lệ thuỷ, Quảng Bình

 

 

 

 

 

 

 

 

Người hát rong

Tháng mười năm 2011 tập Thơ “ Người hát rong” ra đời đây là đứa con tinh thần thứ hai của anh Đỗ Quý Dũng. Tập thơ tập hợp 53 bài thơ được sáng tác khoảng từ năm 2003 trở lại, Nhà xuất bản Thuận hóa xuất bản…Ngọc Liên xin giới thiệu cùng bạn đọc vài tác phẩm trong tập thơ này…

***********************************************************

 

 

Cái đẹp

 

Lũ chúng tôi

       đứa Họa sĩ

               đứa làm thơ…

Bàn cãi say sưa

Về đổi mới tư duy nghệ thuật

       “ Tả thực, Ấn tượng, Siêu hình”…

Ngoài hiên mẹ ngồi giã trầu

                                   lặng thinh

Cô gái qua nhà

Nhìn chúng tôi

             Tủm tỉm…

Cả bốn đứa trầm trồ:

       Người đâu mà đẹp như tiên!

Mẹ móm mém cười

       Chép miệng

             Con bé

               Thật có duyên…!

 

                                     10/2003

 

 

 

 

 

Thánh thần và quỷ dữ

 

I

Em xem tôi như kẻ ngu đần

Hoặc cho tôi thật thà trong sáng

Hãy đem máu tôi xét nghiệm

Sẽ thấy vệt đen ham chức ham quyền

Vệt vàng - ham của ham tiền

Vệt xanh - ngoại tình

Và đục nhờ là lọc lừa giả trá

Tôi chẳng phải thánh thần

Cũng chưa là quỷ dữ

Bởi phần nhiều trong máu của tôi

Có ngọt ngào lời ru của mẹ

Và mặn chát mồ hôi của cha

 

II

Con gái nói với tôi

-         Chẳng có thánh thần và quỷ dữ

( hình như sách giáo khoa dạy thế )

 

III

Buổi sáng đài đưa tin

Một vị tháng trước được vinh danh

Hôm qua đứng trong vành móng ngựa

Mặt xanh như tấm lá…

 

IV

Nghe nói

 Trong máu ông ta

         Mất hết vị ngọt ngào lời ru của mẹ

               Và mặn chát mồ hôi của cha.

 

                                           Đêm 10/9/2004

 

 

 

 

 

Ngọn gió quê

 

Mãi hành khất giữa đất trời phố thị

Quên ánh trăng lấp ló bờ tre

Quên bếp lửa rơm, khói nhòa mắt mẹ

Quên cánh diều cong vút gió triền đê

 

Hoa gạo rụng, đỏ chiều chợ vắng

Quán liêu xiêu đâu chổ mẹ ngồi

Con ngóng đợi tấm bánh đa bánh đúc

Cánh trầu cay đằm thắm nụ cười

 

Ta gom nhặt gió chiều cất lại

Ủ trong tim miếng trầu mẹ tuổi thơ

Giữa choáng ngợp sắc màu hư ảo

Tiếng mõ trâu tha thiết gọi ta về.

 

                             Đêm 4/2/2006

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 CHUỐC RỰU CHO MÌNH

 

                               Một thời

                                             Say

                                                       Không rượu

                               Mơ màng chốn phù hoa

                               Ngả nghiêng như cái bóng

                                            Đêm

                                                      Ta về với ta

                               Một thời

                                           Say

                                                      Không rượu

                               Ngất ngưỡng quên lối về

                              Sao trời nhìn xoi mói

                              Ta víu vào hồn quê

                              Một thời

                                         Say

                                                     Không rượu

                              Chập chờn giữa trắng đen

                              Vẳng lời ru của mẹ

                              Tâm hồn ta bình yên

                              Rượu đây

                                         Ta ơi

                                                    uống!

                              Chén nữa rồi chén thêm

                              Ngàn vạn sao tàn hết

                              Uống cạn bầu trời đêm.

 

                                                  Đêm 14-3-2005

 

Bức tranh phong cảnh Tam Đảo ( Đỗ Quý Dũng ) 2009

Nguồn gốc:

Năm 2009 Văn nghệ sĩ Quảng Bình đi sáng tác tại Tam Đảo. Ngọc Liên va anh Quý Dũng ở chung một phòng, thật là ngại cho ai ở chung phòng cùng Họa sĩ - Rườm rà, bẩn, hôi sơn, hôi dầu…Vậy mà anh lại thích ở với Liên. Trong phòng còn có vài palette ( Bng pha màu ) của các Họa sĩ ở trước bỏ lại màu mè loàm nhoàm nham nhở…Thế là anh Dũng lấy tay nhúng một ít sơ dầu bôi thêm vài chấm phá anh cất vào góc..Đó là nguồn góc bức phong cảnh trên…

                                                                                                        Ngọc Liên 

 

Địa chỉ Facebook của Đỗ Quý Dũng Bạn vào đây

Kết nối nhanh...

Write a comment

Comments: 10
  • #1

    ngoclien (Saturday, 21 May 2011 14:41)

    Bạn trao đổi cùng Đỗ Quý Dũng tại đây nhé ! Trân trọng cảm ơn !...

  • #2

    Em gái xa quê (Tuesday, 15 November 2011 15:19)

    Đọc những baì thơ Anh Dũng viết như được nghe laị những âm điệu quê hưong.

  • #3

    Dino (Friday, 25 November 2011 07:11)

    Auto Twitter WP plugin Submit your current post for you to Twitter, from Wordpress administrator interface

  • #4

    analýza webu (Tuesday, 24 January 2012 01:31)

    will come back shortly

  • #5

    Đỗ Quý Dũng (Wednesday, 08 February 2012 14:04)

    Cám ơn Em gái xa quê đã đọc thơ anh

  • #6

    Darren (Wednesday, 04 April 2012 02:21)

    Fine info bro

  • #7

    phương xa ty (Saturday, 09 March 2013 14:12)

    Chúc mừng người cùng tuổi qua Website Dương Ngọc Liên !

  • #8

    Vo Xuan Hieu - An Thuy (Friday, 12 April 2013 18:52)

    Đọc thơ của chú cháu rất nhớ về quê hương Lệ Thủy và Ba của cháu ( Võ Xuân Hoàn).Qua thơ của chú cháu cảm nhận được có cái gì đó rất mộc mạc và tha thiết. Chúc chú DŨNG sức khỏe và viết thêm nhiều bài thơ hay.
    Cháu HIỆU Sài Gòn.

  • #9

    Vương Huệ (Wednesday, 13 November 2013 10:07)

    Bài thơ ĐI TÌM ĐỒNG ĐỘI hay và xúc động quá...
    "Những tên họ trăm quê nhựa chảy rưng rưng..."

  • #10

    thuha (Friday, 29 November 2013 18:02)

    Đọc thơ anh nhớ quê và cay cay khóe mắt !