Nhà Văn - Kim Cương

Kim Cương

 

Tên thật: Nguyễn Kim Cương  ( Sinh ngày 20 tháng 12 năm Quý Tỵ )

Các bút danh khác: Hồng Kim, Hồng Linh, Bát Ngũ

Người làng Cự Nẫm ( Xã Cự Nẫm - Huyện Bố Trạch - Tỉnh Quảng Bình) -

         - Cấp hàm Đại tá an ninh nhân dân ( nghỉ hưu tại Đồng Hới, QB )

         - Cử nhân khoa học ( ngành văn )

         - Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Luật gia Việt Nam, hội viên Hội Di sản văn hoá Việt Nam       

       

           - Huân chương chiến công hạng nhất;

           - Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng ba;

           - Huy chương kháng chiến hạng nhì;

           - Huy chương Vì an ninh Tổ quốc;

           - Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất

           - Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;

           - Huy chương vì sự nghiệp tư tưởng văn hoá Việt Nam;

           - Huy chương vì sự nghiệp văn hoá thông tin Việt Nam;

           - Huy chương vì sự nghiệp thể dục thể thao Việt Nam;

           - Huy chương vì s.n phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam,

           - Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng

 

 

 

Tác phẩm đã xuất bản:

 

     - Bộ ba tiểu thuyết: Người quy phục Hoàng đế ( tái bản lần 2), Hoa dạ hương, Tiếng nổ sau chiến tranh ( Nhà xuất bản Công an nhân dân và Nhà xuất bản Thuận Hoá )

     - Tập truyện ký: Đồng đội ( Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình) 

     - Tập ký sự: Đường qua tuyến lửa ( Nhà xuất bản Công an nhân dân ).

     - Tập truyện - Ký ( Nhà xuất bản Thuận Hoá )

     - In chung các tập: Điều hắn chưa tính đến, Cuộc săn đuổi bí mật, Bài ca lặng lẽ, Vàng trong lửa, Sáng mãi niềm tin.

 

     - Biên soạn: 2 tập " Lịch sử Công an nhân dân Bình Trị Thiên, 2 tập " Lịch sử Công an nhân dân Quảng Bình" và " Lịch sử Công an nhân dân huyện Bố Trạch".

 

*************************************************************

 

 

 

 

Video giới thiệu một số tác phẩm của nhà Văn Kim Cương

 

 

 

Các giải thưởng văn học:

 

      - Giải Lưu Trọng Lư với tiểu thuyết " Tiếng nổ sau chiến tranh"

      - Giải B cuộc thi truyện và ký của Tạp chí Nhật Lệ lần thứ nhất với tác phẩm " Đồng đội"

      - Giải B cuộc thi viết ký về du lịch Quảng Bình với tác phẩm " Du hành Ba Trại"

      - Giải ba cuộc thi truyện ký của Tạp chí Nhật Lệ lần thứ hai với tác phẩm " Làng tôi- làng mặt trận"

      - Giải B cuộc thi viết ký do Tập đoàn cao su Việt Nam phối hợp với Hội nhà văn Thành phố Hố Chí Minh tổ chức với tác phẩm " Lệ Ninh xanh"...

 

 

 

 

NGỜI SÁNG TRONG NHÂN LOẠI

 

                                                               Bút ký của Kim Cương

 

       Thế là Ông đã ra đi. Lòng người quặn đau. Trái tim nhức nhói. Trời đất quay cuồng, đảo điên nổi loạn. Người khóc. Gió gào rít. Mưa tầm tã liền mấy ngày đêm tuôn nước. Cả nhân loại đều hướng về Việt Nam chia sẻ nỗi đau, khi được tin Ông - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cây đại thụ rợp bóng nhân văn, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, một danh nhân hiếm có của thế giới, mang đầy đủ đức tính: Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung,  người cộng sản chân chính đến tận cuối đời, vị tướng trong những vị tướng nổi danh nhất thế giới sống đến 103 tuổi đã về với cõi vĩnh hằng.

       Mọi người đều nói ông là vị thánh, giỏi từ trong những suy nghĩ, tiếng nói, xử thế và hành động, đến cả nhà Trời cũng động lòng. Nhớ lại ngày Bác Hồ ra đi ( ngày mồng hai tháng chín năm 1969), trời khóc mưa xối xả hoà với lệ rơi trên hàng triệu người. Lần này, từ trong những ngày cuối đời của Ông, biết không thể cứu nỗi, trời lại đổ mưa. Mưa như dội nước cả ngày lẫn đêm. Mưa đều khắp cả nước. Loài người hồi hộp và thương tiếc, đau xót vì sắp mất một vĩ nhân. Nhà trời thấy sắp mất một vị thánh hiền tài, nổi cơn cuồng phong thành cơn bão số 10 - cơn bão Wutip dữ dội chưa từng có vào Quảng Bình quê Ông, như một người quá đà tức giận, điên cuồng đập phá. Từ sau 18 h 9 phút ngày 4 tháng 10 năm 2013, quá thương tiếc người anh hùng dân tộc Việt Nam, thương tiếc một vĩ nhân, trời mưa càng nhiều hơn. Mưa trắng trời trắng đất. Mưa to, gió lớn suốt hơn một tuần, rồi ngừng lại vào ngày mười hai tháng 10, toả nắng cho mọi sự chuẩn bị đưa Ông về quê bằng chuyên cơ VN- 103 và an táng tại Vũng Chùa, với núi Phượng, sông Loan có thế Rồng chầu, Hổ phục, nơi có đền thờ của nàng công chúa nhà Trời Liễu Hạnh, non nước hữu tình - nơi mà cách đây gần 450 năm, Trạng Trình đã sấm " Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" vào ngày 13. Cũng như lòng người, nỗi đau chưa dứt, trời lại khóc ròng rã những ngày sau đó, kèm theo cơn bão số 11 - cơn bão Nari gây nên trận lụt lớn trên quê hương Ông. Nỗi đau còn cấu xé. Nhà Trời cứ vần vũ, tuôn mưa liên tục và nổi thêm 3 cơn bão. Chỉ một tháng Ông ra đi mà nhà Trời gây ra 5 cơn bão thật là hiếm có, trong đó cơn bão Haiyan - cơn bão số 11 làm cho cả khu vực Đông Nam Á run sợ. Đó là siêu bão chưa từng có trong lịch sử thế giới từ trước đến nay. Bão đã trườn qua Philipin cướp đi hàng ngàn sinh mạng và tàn sát tan nát hơn hai phần ba đất nước này. Theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn của nhiều nước thì khoảng 7 giờ sáng ngày 10 tháng 11 bão sẽ vào sát bờ biển từ Quảng Trị đến Bình Định, với sức gió cấp 13 và 14, giật câp 17 - cấp tột cùng của bão. Dự báo của nhiều nhà khí tượng tài ba trên thế giới thì bão luôn giữ nguyên cấp gió và tiến thẳng vào đất liền, rồi quét một mạch từ Bình Định ra hướng Bắc, quét dọc ra tận các tỉnh Bắc bộ. Nhìn đường đi của cái xoáy màu đỏ dọc đất nước, như đang xoáy vào tận tim của mỗi người. Cả thế giới đều lo cho Việt Nam. Cả Việt Nam lo lắng, tập trung tìm mọi cách phòng chống. Trong lúc Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang cùng đoàn chỉ đạo ở các tỉnh phía Nam, thì Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Bộ trưởng Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn Cao Đức Phát vào chỉ đạo ở miền Trung. Trên đường đi chỉ đạo, hai vị lãnh đạo của Chính phủ đã vào kính cẩn dâng hương trên mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Mũi Rồng, bên bờ biển quê hương Quảng Bình. Sau một ngày đêm cật lực dùng các loại dây thép và gạch đá để buộc chằng và đằn mái với tâm trạng lo âu khó thoát khỏi sự tàn phá của siêu bão, lo và thương cho gia đình đứa con thứ hai ở Đà Nẵng, với hai cháu còn nhỏ dại, suốt cả ngày đến các khách sạn tìm thuê phòng trú ẩn không còn chỗ, đang bị bắt buộc di dời khỏi ngôi nhà cấp 4 đến ăn ở tập trung khổ cực ở Trung tâm thể thao thành phố, khi đọc được tin này, tôi liền nói với vợ con:

- Bão không dám vào nước mình nữa đâu!

- Sao vậy anh?- Vợ tôi hỏi.

- Có Đại tướng che đỡ rồi!

- Sao ba lại nói vậy? - Con tôi hỏi.

- Sáng nay Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã vào thắp hương vái xin rồi - Tôi nói: - Đại tướng từng chỉ huy đánh tan hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới là Pháp và Mỹ, đánh thắng cả 10 đại tướng của quân thù và luôn luôn được lòng dân, chắc chắn sẽ đẩy được cơn bão chưa từng có trong lịch sử này, không cho nó vào bờ được đâu!

Quả nhiên, suốt cả ngày hôm ấy, cơn bão vẫn rất mạnh, vẫn lao nhanh ra phía Bắc, nhưng chỉ đi cách bờ gần 100 cây số, không dám vào đất liền. Phần lớn đất nước bình yên. Vậy là, sau 103 năm cầm quân đánh tan thù trong, giặc ngoài và lo vận nước, giờ đây trước vận mệnh đất nước bị siêu bão Haiyan đe doạ tàn sát, từ dưới lòng đất quê hương, Đại tướng dùng tất cả sức mạnh của cả lòng dân đã được dồn vào trong mình, xuất khí giúp nước đánh bạt cuồng phong, như một vị Thánh. Chống giặc trên trần gian, chống giặc của nhà Trời như là sự trùng hợp trong một cuộc đời của Ông!                                                                                                                                                      

                                                                *

 

                                                          *          *

 

 

Nhìn nước lũ tràn về quê hương trong những ngày đại tang, người ta lại nhớ đến trận lụt năm Tân Hợi. Chuyện kể lại rằng: trong lúc bà Nguyễn Thị Kiên chuẩn bị chuyển dạ, thì trời mưa như trút nước. Nước từ trên trời đổ xuống. Nước từ Đại ngàn Trường Sơn đổ về làm cho mặt sông Kiến Giang ngày càng dâng cao, tràn ngập sâu khắp cả huyện Lệ Thuỷ - Tỉnh Quảng Bình. Làng An Xá -  Xã Lộc Thuỷ của bà nằm sát bên sông nên nước ngập sâu hơn. Như đoán được nạn hồng thuỷ sắp diễn ra, ông Võ Quang Nghiêm đã chặt cây trong vườn, dựng thành một cái chòi cao và vững chắc bên gốc mít cổ thụ, đủ cho vợ sinh và cả nhà lánh nạn. Từ trên cái chòi cao giữa mênh mông nước lũ đó, Võ Nguyên Giáp đã chào đời trong ngày 25 tháng 8 năm 1911.

          Mở mắt ra đã thấy lũ lụt ngập cả quê hương và cảnh khổ cực của dân làng do sự áp bức, bốc lột của thực dân phong kiến, trở thành đấu ấn sâu đậm trong cuộc đời của cậu. Có lẽ từ cái dấu ấn từ buổi đầu làm người khó quên ấy, đã hình thành trong người cậu lòng yêu nước, căm thù giặc và thương dân ngay từ lúc còn nhỏ. Bên cạnh cậu là người mẹ hiền, thông minh có trí nhớ tuyệt vời, hàng ngày vào lúc rảnh rỗi, bà thường kể cho cậu nghe vể chuyện ông ngoại của cậu hưởng ứng Chiếu Cần Vương hăng hái tham gia phong trào chống Pháp, làm đến chức Đề đốc coi đại đồn tiền vệ, bị quân Pháp bắt tra tấn rất dã man, nhưng một mực trung thành, không một lời khai báo. Mỗi lần giăc Pháp kéo đến là bà ngoại đặt các con vào thúng rồi gánh chạy. Mẹ còn đọc cho cậu nghe vè " Thất thủ kinh đô". Bài vè để lại trong tâm trí cậu không bao giờ phai. Cha ông là một nhà Nho nên dạy con rất nghiêm cẩn trọng trong sinh hoạt gia đình và học hành, giữ gìn nề nếp gia phong của đạo Khổng. Ông dạy đám học trò cùng con trai: Tạm thiên tự, Ngũ thiên tự và cả Ấu học tân thư. Năm tháng học chữ Nho không nhiều nhưng những đạo lý học được trong các sách của Thánh hiền đã trở thành nền tảng cơ bản có ảnh hưởng sâu sắc trong cả cuộc đời cậu. Trong thế giới quan Nho giáo, cả ba yếu tố cá nhân, gia đình và dân tộc đều hoà quyện chặt chẽ với nhau. Qua Ấu học tân thư, cậu Giáp được biết tới nhiều tấm gương quên mình để bảo vệ Tổ quốc, hình thành trong cậu niềm tự hào về những chiến công của cha ông trong quá khứ. Những giá trị đạo đức, nề nếp gia phong của đạo Khổng thấm nhuần trong người cậu, lối sống giản dị và đức hiếu học, sự kính trọng tổ tiên và ông bà, cha mẹ, sự kính trên, nhường dưới, đạo hiếu của con cái với cha mẹ, nghĩa vụ của con người với gia đình, xã hội và Trời, Đất. Ông càng hiểu sâu sắc hơn về đạo lý làm người qua câu: " Ong tuy độc không đốt trong đàn - Hổ tuy ác không ăn đồng loại", cũng như " Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", hoặc " Nhiễu điều phủ nhận giá gương - Người trong một nước phải thương nhau cùng"... Cậu đã biết ghét thằng Tây và rất khó chịu trước cảnh thầy giáo trường Tổng bắt học sinh hát để mua vui cho bọn Pháp và tay sai của chúng. Học hết lớp 3, cậu phải xa nhà về Đồng Hới học tiếp với thầy Đào Duy Anh - người mà sau này trở thành một học giả, một nhà nghiên cứu văn hoá, giáo sư sử học, một nhà văn có tài. Bên dòng Nhật Lệ hiền hoà lung linh in bóng Luỹ Thầy, hàng ngày cần mẩn đổ nước sông ra bù đắp cho biển cả, cậu không quên nhớ lên dòng Kiến Giang trong xanh soi bóng những bờ tre xanh và vườn cây trĩu quả ở quê. Nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ quê nhà và anh em, bạn bè, nhưng với bản lĩnh tiến thủ, câu vẫn học rất giỏi, tháng nào cũng đứng đầu lớp và đỗ đầu toàn tỉnh trong kỳ thi tốt nghiệp bậc sơ học. Rồi cậu tam biệt quê hương Quảng Bình chang chang nắng rát, nghèo, nhưng tráng lệ, mộng mơ, in đậm bao danh nhân đất nước, năm 13 tuổi cậu lên đường vào Kinh đô Huế ứng thi và vào học ở trường Quốc học. Không phụ lòng cha mẹ và kiến thức của thầy đã truyền thụ, cậu đã thi đỗ vào loại khá. Việc học để nâng cao trình độ đối với cậu giờ đây rất cần thiết, nhưng tình hình đất nước lúc bấy giờ đang có nhiều biến đổi. Phong trào nông dân, học sinh Trung kỳ nổi lên đòi giảm sưu, giảm thuế nặng, đòi thực dân Pháp trả lại tự do cho nhà trí thức yêu nước Phan Bội Châu và đòi được để tang cụ Phan Chu Trinh đang dấy lên khắp nơi...Nên mặc dù việc học, tháng nào cũng đứng đầu lớp, nhưng không còn là điều quan tâm của cậu. Cậu thường làm quen, tiếp xúc với nhiều người lớn tuổi từng hoạt động phong trào thanh niên học sinh, như Nguyễn Chí Diễu, Nguyễn Khoa Văn ( Hải Triều), lại được các thầy đầy tâm huyết với dân tộc dạy bảo như thầy Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai... Nhân việc Nguyễn Chí Diễu bị giám thị Pháp vu oan copy bài của bạn rồi đuổi học, cậu cùng các bạn học làm đơn yêu cầu nhà trường không được đuổi học sinh Nguyễn Chí Diễu. Đơn bị trả lại. Cậu bàn với Nguyễn Khoa Văn tổ chức bãi khoá. Cuộc bãi khoá của Trường Quốc học Huế nhanh chóng trở thành cuộc tổng bãi khoá của học sinh trong Kinh thành Huế. Trong cuộc bãi khoá đó, cậu bị bắt, rồi bị đuổi học phải trở về quê, lúc 16 tuổi.

          Đang ấm ức, căm ghét bọn Pháp, thì cậu lại được gặp Nguyễn Chí Diễu lặn lội từ Huế ra. Người bạn học hơn cậu ba tuổi này đã chia sẻ với Võ Nguyên Giáp về sự bất bình trước cảnh giáo dục thực dân và cho biết sau khi bị đuổi học Diễu đã tham gia Tân Việt cách mạng Đảng hiện có cơ sở ở Huế và đưa cho cậu xem chương trình, Điều lệ của Tân Việt cách mạng Đảng. Nguyễn Chí Diễu còn mang theo một tập tài liệu về " Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới" và một số văn kiện cuộc họp của Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu, trong đó có hai bài phát biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đưa cho Võ Nguyên Giáp. Cậu đọc đi đọc lại rất nhiều lần vừa xúc động, vừa căm phẩn bọn thực dân, phong kiến và khao khát được sớm tham gia vào phong trào cách mạng. Đó cũng là sợi dây đầu tiên nối liền số mệnh của cậu Giáp với Nguyễn Ái Quốc và sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Cũng từ đó, cậu đã chuyển mình thành một anh thanh niên yêu nước.

 

                                    *

                         

                               *        *

 

Năm 1928, Võ Nguyên Giáp tạm biệt cha mẹ, anh em, bà con, bạn bè và quê nhà, tạm biệt dòng Kiến Giang hiền hoà, xanh mát, gắn liền với bao kỷ niệm của tuổi thơ, đến với dòng Hương Giang của xứ Huế thơ mộng, bước vào đời của một chiến sĩ cách mạng. Nguyễn Chí Diễu đã giới thiệu anh vào Tân Việt cách mạng Đảng, làm việc ở Quán Hải Tùng thư - một nhà xuất bản của Tổng bộ Tân Việt chủ trương, đặt ở phố Đông Sa, do thầy giáo cũ Đào Duy Anh sáng lập. Anh được bố trí làm thư ký của Nhà xuất bản, sinh hoạt trong một tổ bí mật của Đảng Tân Việt do Đào Duy Anh làm tổ trưởng. Tại đó, Võ Nguyên Giáp được tiếp xúc với những học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng, đặc biệt là cuốn " Bản án chế độ thực dân Pháp" của Nguyễn Ái Quốc và tờ báo " Người cùng khổ" ( Le Paria) từ Pháp gửi về. Được mặt trời chân lý rọi vào tim và khối óc, Võ Nguyên Giáp rực lên ngọn lửa nhiệt huyết cách mạng, tích cực, say sưa hoạt động. Chỉ một năm sau, anh đã thành một trong những thành viên hạt nhân của Đảng Tân Việt. Anh tích cực vận động cho tổ chức này gia nhập Đảng cộng sản và được Đào Duy Anh -Tổng biên tập báo Tiếng Dân giới thiệu với cụ Huỳnh Thúc Kháng cho làm biên tập viên của tờ báo đầu tiên ở Trung Kỳ có xu hướng tiến bộ này. Với vai trò và trách nhiệm của mình, Võ Nguyên Giáp đã tích cực viết bài tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lê nin, cổ vũ phong trào cách mạng trong nước, trở thành một đối tượng bị chính quyền thực dân theo dõi sát chặt.. Và, ngày 25 tháng 10 năm 1930, chỉ còn một tháng nữa là tròn 19 tuổi, Võ Nguyên Giáp cùng một số người đã bị Pháp bắt giam trong một đợt khủng bố trắng, trong đó có thầy Đặng Thai Mai và nữ sinh Nguyễn Thị Quang Thái ( em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai). Anh bị kết án 2 năm tù giam tại nhà lao Thừa Phủ. Dù bị tra tấn cực hình và suốt ngày bị giam trong buồng tối, nhưng Võ Nguyên Giáp vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, không một giây khuất phục trước mọi sự cám dỗ của kẻ thù. Cuối năm 1931, do Hội cứu tế Đỏ Pháp đấu tranh, đòi thả chính trị phạm, thực dân Pháp ở Đông Dương buộc lòng phải nhượng bộ tha một số tù chính trị. Đặng Thai mai, Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang Thái và một số anh em khác được ra khỏi tù, nhưng anh bị đưa về quê quản thúc.

Không chịu nổi sự kìm kẹp của kẻ thù,Võ Nguyên Giáp đã tìm cách ra Vinh  (Nghệ An) đến nhà thầy Đặng Thai Mai, nhờ thầy giúp đỡ tìm kiếm việc làm tạm thời để thực hiện chí hướng của mình. Khi thầy Đặng Thai Mai chuyển ra dạy học ở Hà Nội, Võ Nguyên Giáp đi theo thầy, tiếp tục ôn bài và chỉ trong 10 tháng, từ lớp Thành chung năm thứ hai, anh đã thi đỗ lấy bằng tú tài phẩm nhất hạng ưu. Không dừng lại ở đó, Võ Nguyên Giáp vừa là sáng lập viên của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, làm Chủ tịch Uỷ ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội, tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notrevoix ( Tiếng nói của chúng ta), Le Travail ( Lao động), biên tập các tờ báo Tin tưc, Dân chúng... vừa tiếp tục học nhân bằng Cử nhân Luật năm 1937, lại học thêm về kinh tế, chính trị để lấy bằng Luật sư đến năm thư tư...Năm 1939, Võ Nguyên Giáp còn nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long ( Hà Nội) do Hoàng Minh Giám làm Giám đốc. Anh đã dồn tất cả trí và lực hoạt động không ngơi nghỉ suốt cả ngày đêm. Những người làm báo lúc bấy giờ nói rằng: Sức làm việc của anh Võ Nguyên Giáp hết sức kỳ lạ. Anh có thể viết suốt 24 giờ liền cho toàn bộ một số báo Le Travail để hôm sau đưa đến nhà in, kịp thời phát hành. Còn học sinh ở Trường Tư thục Thăng Long thì mô tả rằng: Anh có thể vẽ lên bảng đen sơ đồ từng trận đánh của Napoléon, anh sôi nổi kể về Công xã Pari, về cái chết oanh liệt của các nhà cách mạng. Anh không chỉ là nhà sử học đơn thuần, mà còn là một trạng sư say mê, luôn bênh vực tính chính nghĩa của lịch sử...

Trong thời gian này, anh đã xây dựng gia đình với Nguyễn Thị Quang Thái - người nữ sinh xinh đẹp, dáng vẻ dịu hiền, nhưng không kém phần kiên nghị, bất khuất, đôi mắt thông minh đầy quyến rũ...từng học ở Trường Đồng Khánh ( Huế) năm xưa đã thu hút tâm hồn anh và càng cảm phục nhau hơn trong những tháng gặp nhau trong nhà lao Thừa Phủ.

Cuối năm 1939, Chính phủ bình dân Pháp bị đánh đổ, nước Pháp nói riêng và thế giới nói chung đứng trước nguy cơ đe dạo của chủ nghĩa phát xít. Ở Đông Dương, nhà cầm quyền thực dân đàn áp phong trào cách mạng được dịp trỗi dậy, ngày đêm lùng sục, bắt bớ, tra tấn nhiều chiến sĩ cộng sản. Vào lúc này, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Uỷ viên thường vụ Đảng cộng sản Đông Dương khuyên Võ Nguyên Giáp nên ra nước ngoài, nơi anh có dịp gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mà anh từng ngưỡng mộ. Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam, cùng Phạm Văn Đồng lên Lao Cai, rồi vượt biên sang Trung quốc.

Như một định mệnh, đến Vân Nam Trung quốc, Võ nguyên Giáp được gặp ngay Nguyễn Ái Quốc trên một con thuyền ở Thuý Hồ, Côn Minh. Lúc này Bác đã mang tên Hồ Chí Minh. Chỉ sau một thời gian ngắn, Bác Hồ đã thấy Võ Nguyên Giáp là người triển vọng. Kể từ đó, Võ Nguyên Giáp luôn luôn có vinh dự được sống và chiến đấu bên cạnh Hồ Chí Minh và được Người dìu dắt. Để đào tạo cho lâu dài, Bác Hồ đã liên hệ với Đảng cộng sản Trung quốc và cử anh đi học quân sự tại cứ địa Diên An. Trên đường đến Diên An, anh được Hồ Chí Minh gọi quay lại vì tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở Châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Hồ Chí Minh nhận định tình hình Đông Dương sẽ có chuyển biến nhanh, cần gấp rút về nước chuẩn bị đón thời cơ.

Đúng vào dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ ( 1941), Võ Nguyên Giáp cùng Hồ Chí Minh về Cao Bằng. Từ trong hang Pắc Bó, Hồ Chí Minh đã dự đoán: " Trong 5 năm nữa Tính từ năm 1941) cách mạng sẽ thành công, điều chúng ta mong đợi sẽ toả sáng". Lời tiên đoán của Bác đã trở thành niềm tin sắt đá, giúp Võ Nguyên Giáp và các đồng chí của anh có thêm niềm tin vào tương lai. Võ Nguyên Giáp thường kể lại cho nhiều người nghe là lúc đó ở Việt Bắc rất khổ cực, "tìm được cái ăn đã là chiến công. Chúng tôi phải chia nhau từng củ sắn, từng bắp ngô". Không ít người bối rối. dao động, có người e ngại làm sao cách mạng thành công khi không có súng và lấy đâu ra súng? Những lúc ấy, Võ Nguyên Giáp không bao giờ quên lời dạy cảu Bác: " Chúng ta sẽ dựa vào sức mình là chính cùng với một ít viện trợ từ nước ngoài. Mọi việc đều do nhân dân mà nên. Người trước, súng sau, có nhân dân là có tất cả". Tin vào những lời Bác Hồ nói, Võ Nguyên Giáp tích cực tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng. Đó là một việc làm hết sức mới mẽ của chàng thanh niên mới 30 tuổi, cũng là một việc làm hết sức kinh ngạc của bạn bè khắp năm châu, như hãng truyền thông BBC của Anh đã đánh giá:  "Là một người cộng sản tận tuỵ, Võ Nguyên Giáp chưa bao giờ được huấn luyện quân sự chính thức nhưng lại có được tiếng tăm với tư cách là một chiến lược gia tài ba, người kiến tạo nên những chiến thắng chống lại các lực lượng được trang bị tốt hơn nhiều về mặt kỹ thuật". Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã đứng ra thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập ( một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và một súng máy. Quân số quá ít, vũ khí thô sơ, nhưng với sự tài ba của mình, chỉ sau ba ngày mới thành lập, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.

Là người hậu sinh, tôi không dám đánh giá gì về sự tài ba của Ông, nhưng những gì Ông đã làm đều như Thánh. Ngày xưa, chỉ với một gốc tre, Thánh Gióng đã đánh tan lũ giặc Ân. Còn với Ông chỉ với 34 người  vừa rời khỏi đồng nương" tập khiêm, tập mác, tập súng... mắt chưa từng thấy", mới tụ tập lại với nhau ba ngày đã đánh thắng giặc có sức mạnh và tiềm lực gấp mấy lần mình, thì quả là điều kỳ diệu! Ở Ông như Ông đã nói: " nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chúng tôi trả lời là từ " lo sợ" không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập, tự do...". Bác Hồ tín nhiệm Ông. Đảng tín nhiệm Ông. Dân cảm phục Ông. Ông đã được dưa vào uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương và là Thường vụ Trung ương khi mới 32 tuổi trước ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng 5 ngày, để lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa. Và, Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công. Non sông rạng rỡ. Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành lập. Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên.

 

                                    *

                                                           

                                 *        *

 

Ra đi từ một vùng quê gạo trắng, nước trong, trong cái danh " Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện", nhưng phải sống tối tăm, khổ cực và nghèo đói quanh năm dưới sự đô hộ của thực dân phong kiến, nhưng với lòng yêu nước thương dân và khí phách kiên cường, Ông đã vượt qua mọi gian khổ, khó khăn và sự tra tấn cực hình của giặc Pháp trong lao tù, trở thành một người cộng sản ưu tú.Ông đã từng trả lời với một nhà báo Ý rằng: " Người Phương Đông chúng tôi khác người Phương Tây. Chúng tôi đặt sự tồn vong của cộng đồng lên trên lợi ích của cá nhân..." Ông cho biết: người Việt Nam sẽ sẵn sàng chịu bất kỳ hy sinh nào và chiến đấu tới cùng để giải phóng đất đai của họ từ quân đội nước ngoài, và ông cũng không ngoại lệ. Không ngoại lệ với tư tưởng của dân tộc, Ông đã quyết tâm tìm đến với những người cộng sản, tìm đến với con đường giải phóng dân tộc, tìm đến với Đảng, với Bác Hồ kính yêu, đi đầu trong các cuộc đấu tranh của học sinh, chỉ huy chiến đấu đánh Pháp và Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945, tham gia thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trở thành một trong 5 uỷ viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương, rồi nhận nhiệm vụ của Bác Hồ giao, tiếp tục trấn áp các đảng đối lập, mà tiêu biểu là tiêu diệt bọn phản cách mạng trong vụ án Ôn Như Hầu, bảo vệ an toàn chính quyền còn non trẻ...

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, Ông đã bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang và chỉ trong năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng chính uỷ, Ông đã chỉ huy đội quân của mình giành thắng lợi giòn dã trong chiến dịch Việt Bắc ( Thu Đông năm 1947). Chiến thắng oanh liệt này như một kỳ tích trong lịch sử quân sự của thế giới, đối với một vị chỉ huy chưa qua bất kỳ một lớp đào tạo quân sự nào và chưa được mang một cấp bậc hàm nào trong quân đội như Ông. Và, không thể nào khác được là ngày 28 tháng 5 năm 1948, Hội đồng Chính phủ đã phong quân hàm Đại tướng cho Ông, theo sắc lệnh 110/SL mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ngày 20 tháng 01 năm 1948, trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ mới 37 tuổi. Về sự kiện hiếm có này, khi trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Đánh thắng Đại tá phong Đại tá, đánh thắng Thiếu tướng phong Thiếu tướng, thắng Trung tướng phong Trung tướng, thắng Đại tướng phong Đại tướng"... Đó là việc chưa từng thấy trên thế giới. Nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, cũng như toàn dân trong nước đều thừa nhận đức và tài của Ông và nói rằng  "Chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới biết và sáng suốt như vậy"! Ngay cả hãng thông tấn BBC cũng đánh giá: " Là một người cộng sản tận tuỵ, Võ Nguyên Giáp chưa bao giờ được huấn luyện quân sự chính thức nhưng lại có được tiếng tăm với tư cách chiến lược gia tài ba, người kiến tạo nên những chiến thắng chống lại các lực lượng được trang bị tốt hơn nhiều về mặt kỹ thuật". Ông còn là người đã được Đảng và nhân dân tín nhiệm giao nhiều trọng trách đối với đất nước như: Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng chính uỷ, Bí thư Quân uỷ Trung ương... từ khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đến lúc nghĩ hưu. " Cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm Tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có." Đó là lời cảm kích của Đại tướng Peter MacĐonal, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh. Vị Đại tướng và là nhà khoa học lịch sử quân sự này cũng đã viết trong cuốn "Giáp": " 30 năm trước, trước khi nổ ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ I, ngày 25 tháng 8 năm 1911, ở làng An Xá ( tỉnh Quảng Bình), gần vĩ tuyến 17, đã sinh ra một con người sẽ là một trong những người hiếm hoi làm chuyển dịch dòng chảy của lịch sử. Người ấy sẽ xuất hiện trước toàn thế giới như vị tướng của một quân đội sơ khai nhưng đã chiến thắng hai cường quốc phương Tây. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp...".

Như các danh tướng của Việt Nam trong lịch sử, Ông chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của Ông là chiến tranh nhân dân, kế thừa quan điểm quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân. Từ những kinh nghiệm đó, với sự thông minh và sáng tạo, trong 9 năm đầu cầm quân đánh giặc, Ông đã chỉ huy quân đội nhân dân Việt Nam và huy động được sức mạnh của toàn dân, liên tục chiến đấu và liên tục giành thắng lợi gìn giả với các chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Biên giới và Trung Du trong năm 1950, Đông Bắc, Đồng Bằng và Hoà Bình trong năm 1951, Tây Bắc năm 1952, Thượng Lào năm 1953 và chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954 làm chấn động địa cầu, " nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng", đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp, với 4 Đại tướng chỉ huy, sau hơn 80 năm. Thực dân Pháp đã bị thất bại thảm hại. Tưởng như người Việt Nam đã kiệt sức sau gần 3000 ngày kháng chiến không ngơi nghĩ, đế quốc Mỹ - một đội quân có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh hàng đầu thế giới mang những đội quân mạnh nhất với đầy đủ vũ khí hiện đại và tối tân nhất, với 6 Đại tướng chỉ huy nhảy vào, tưởng chừng " ăn sống nuốt tươi" nước nhỏ bé này và dễ đưa Việt Nam này trở về thời kỳ đồ đá, nhưng, mọi sự lầm tưởng đều phải thua đau, liên tiếp bị nhân dân Việt Nam và đội quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh phủ đầu, đành ngậm đắng nuốt cay, quay đầu rút về nước, với những tổn thất quá nặng nề cả về chính trị lẫn kinh tế và vết nhục khó rửa. Ông chưa bao giờ kể công với nước, với dân và cũng chưa bao giờ dừng lại với những thành công mà mình giành được. Ông chỉ mong muốn đất nước không có chiến tranh để đượảotở về làm thầy giáo, nhưng nhân dân Việt Nam luôn cảm phục Ông, ca ngợi Ông và luôn giành tất cả tình cảm với Ông. Thế giới cũng hết lời ca ngợi Ông. Nhà sử học quân sự Mỹ Cell Cuney đã viết trong tác phẩm  "Chiến thắng bằng mọi giá - Sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam" rằng:  "Trong thời gian đó ( quá trình chỉ huy quân đội của vị Tổng tư lệnh), ông không chỉ trở thành một huyền thoại, mà có lẽ trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ 20 và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại...Ông Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu trong tay chưa có quân, vậy mà vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của đế quốc Nhật Bản, quân đội Pháp ( một chế độ thực dân số 2) và quân đội Mỹ ( một trong hai siêu cường thế giới)...Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân....". Đó là lời ngợi ca và sự chấp nhận thật lòng của người Mỹ.

Nếu như tiêu chí chọn Đại tướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là " đánh thắng Đại tướng được phong Đại tướng", thì suốt cuộc đời mình Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lần lượt đọ sức và đánh thắng 10 Đại tướng của Pháp và Mỹ, chưa kể đến nhiều viên Đại tướng của chính quyền Việt Nam cộng hoà. Các tướng lĩnh Mỹ khi nhắc đến Ông, thường gọi Ông là " Đại tướng 5 sao". William Westmoreland gọi Ông là " tướng huyền thoại". Trong bách khoa toàn thư của Mỹ và của nhiều nước, tên và hình ảnh của Ông được ghi lại như là một trong những vĩ nhân quân sự hiển hách nhất. Trong số đặc biệt kỷ niệm 60 năm ngày ra số đầu tiên của tờ Thời báo Châu Á ( Time Asia) đã ghi đậm tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài giới thiệu các " Anh hùng châu Á" gồm các nhân vật làm thay đổi cục diện châu lục trong những thế kỷ gần đây. Còn trong cuốn sách dày 300 trang khổ lớn " Những nhà lãnh đạo quân sự lớn và những chiến dịch của họ" được xuất bản ở Anh năm 2008, với hơn 500 tấm ảnh màu minh hoạ để giới thiệu 59 nhân vật danh tiếng nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh thế giới trong 2500 năm qua, thứ tự được xếp theo trình tự thời gian từ cổ đến kim, có nhân vật Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Có rất nhiều tác phẩm trong và ngoài nước viết về cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các sử gia, nhà văn, nhà báo, học giả nước ngoài dành nhiều trang sách để ca ngợi vị tướng Việt Nam không tốt nghiệp trường võ bị nào, nhưng trong quân nghiệp Ông đã làm nên điều kỳ diệu - cùng cả dân tộc thực hiện hai cuộc kháng chiến, thắng hai kẻ thù hùng mạnh - thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều trang sách, tác phẩm khắc hoạ và lý giải con người đời thường của Ông - một con người làm nên huyền thoại từ cội rễ của lòng yêu quê hương, đất nước.

 

                                    *

                              *         *

 

Tôi chỉ là một người lính đã trở về với cuộc sống đời thường. Lúc còn là học sinh trường làng, tôi đã được đứng trong đám đông của làng mấy lần đón Ông và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về thăm quê tôi Cự Nẫm anh hùng. Từ cái thuở cách đây nữa thế kỷ ấy, Ông đã để lại trong tôi niềm cảm phục sâu sắc khó phai mờ. Cấp hàm và chức vụ của các ông to và sự cống hiến cho nước cho dân của các ông quá nhiều không tính nổi, nhưng vẫn giản dị, bình dân hơn cả những cán bộ xã của tôi lúc đó. Các ông vẫn xắn quấn ra lội đồng kiểm tra và động viên bà con sản xuất. Các ông đi bộ trên các đường làng đá sỏi đến thăm các cháu học sinh, thăm và nói chuyện với nhân dân... Thấy các ông về thăm, cán bộ và dân quê tôi vinh dự, mừng và tự hào lắm. Lúc nào xã cũng cho người làm những mâm cơm sang trọng để mời, nhưng các ông đều cảm ơn, rồi chào ra về. Đối với các ông không thích sự tốn kém, trong lúc toàn dân nghèo khổ, còn phải dồn sức để đánh Mỹ, cứu nước và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sau này, được chụp ảnh bên Ông trong mấy lần Ông đến thăm lực lượng Công an nhân dân Quảng Bình và chỉ được đứng bên chiếc võng Ông đang nằm rất thơ mộng để phóng viên Phan Hoà của Báo Quảng Bình chụp ảnh bên bờ biển Đá Nhảy. Vinh dự bên Ông chỉ có vậy thôi, nhưng trong tôi, Ông là một vị thánh huyền thoại, rất gần gũi, khiến mình thường xuyên tìm hiểu về Ông. Mọi kỳ tích về Ông, tôi chỉ được đọc trên sách, báo và nghe đài, rồi tích luỹ lại, để rồi năm nào tôi cũng viết về Ông. Lần này, sự ra đi của Ông, lòng tôi cảm thấy  hụt hẩng như đã mất đi một điều linh thiêng, nên lại ngồi viết để bù đắp sự mất mát đó. Cảm xúc hẩng hụt này không phải chỉ vì sự khuất bóng một vĩ nhân, một huyền thoại, mà còn là sự thiếu vắng của những giá trị tinh thần, văn hoá cao đẹp, đem lại niềm kiêu hãnh vốn có của người Việt, để nước Việt tiếp tục vượt qua mọi thử thách trước mắt. Chúng ta đang được chứng kiến những gì đẹp nhất của lòng dân, khi cả dân tộc và cả nhân loại đang xích lại gần nhau trong một nỗi đau chung. Ông sẽ ngậm cười nơi chín suối, khi chính Ông một lần nữa chứng minh tinh thần dân tộc nằm trong chính mỗi người Việt Nam, một tinh thần dân tộc chỉ có thể nghiêng mình trước một nhân cách lớn, chứ không bao giờ quì gối trước bất cứ kẻ thù nào.

Từ xưa, người ta đã nói chỉ có bậc Thánh Nhân mới có thể cảm hoá được lòng người. Trong lịch sử, đã có nhiều sự ra đi của một cá nhân mà tác động đến cả xã hội. Nhưng, những người mà sự ra đi làm cho cả dân tộc và nhân loại xích lại gần nhau, làm cho mọi người đều cảm thấy rằng mình cần phải sống tử tế hơn để không làm buồn lòng người đã mất, thì lịch sử cận đại Việt Nam chỉ có hai người là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ giờ phút Ông ra đi đến nay, từ ngôi nhà số 30 - Phố Hoàng Diệu - Hà Nội, đến ngôi nhà lưu niệm của Ông ở làng An Xá - huyện Lệ Thuỷ - Tỉnh Quảng Bình, những nơi tổ chức lễ viếng Đại tướng ở Hà Nội, Dinh Thống Nhất ( thành phố Hồ Chí Minh), Hội trường Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình, ở khắp các địa phương trong nước, rồi nơi an nghĩ cuối cùng của Ông ở Vũng Chùa... dòng người bất tận lặng lẽ chờ đợi đến lượt viếng Ông. Để được bái biệt Đại tướng, nhiều người đã đi từ 2 - 3 giờ sáng. Nhiều người đứng chờ hàng tiếng đồng hồ. Nhiều người phải vượt đường xa hàng ngàn cây số. Hàng chục triệu người tràn đầy nước mắt, ngậm ngùi cầm ảnh Đại tướng, cầm hoa thơm quả ngọt, cầm nến, cầm hương ...đứng chật kín hai bên các tuyến đường Hà Nội ra sân bay Nội Bài, chật kín hai bên tuyến đường từ sân bay Đồng Hới đến Vũng Chùa với chiều dài trên 50 cây số, chật kín cả vùng nơi chuẩn bị an táng Ông... Đến tiễn biệt Đại tướng có từ các cháu bé chưa đến tuổi cắp sách đến trường, đến các cụ già sắp gần đất xa trời. Những ngày viếng và đưa tiễn Đại tướng, mọi người như thanh lịch hơn, có văn hoá hơn, tử tế với nhau hơn, trật tự xã hội và trật tự an toàn giao thông như tốt hơn nhiều. Tất cả đều quàng chặt tay nhau, trật tự đứng chờ để được gần bên Ông, được tiễn Ông đi, bởi: " Ai cũng muốn một lần có mặt - Nơi còn lưu hơi ấm của Người..." ( Huyền thoại Võ Nguyên Giáp - thơ của Nguyễn Hữu Quý).Thế mới biết sức cảm hoá của Ông to lớn biết nhường nào.

Đại tướng mất, nhân loại mất đi một cây đại thụ rợp bóng nhân văn. Nước nhà mất đi một trụ cột - một người lập quốc còn lại. Lực lượng vũ trang nhân dân mất đi người Anh Cả. Từ lâu nay chúng ta luôn nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cha của các lực lượng vũ trang, còn Đại tướng là người " Anh Cả". Cha ông ta có câu: " làm anh khó lắm ai ơi!". Bây giờ càng ngẫm, càng thấy sao mà đúng thế và Đại tướng đúng là người " Anh Cả". Đến như một người Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam trong mặt trận Xuân Lộc ( Đồng Nai) là ông Paul Hellweg cũng lặng lẽ hướng mắt về màn tivi theo dõi lễ truy điệu Đại tướng không cầm được nước mắt và nói rằng: " Tôi hiểu vì sao những cựu chiến binh ngực đầy Huân chương, những người già phải chống gậy, cho đến những thanh niên, thiếu nhi đều bật khóc. Vì họ đang có chung một nỗi đau, một sự mất mát lớn. Tôi buồn trước sự ra đi của Đại tướng, nhưng tôi vui vì dòng máu người Việt như hoà làm một, các thế hệ người Việt nam đang xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Tôi chưa từng chứng kiến sự kiện nào lại khiến tình cảm nhân dân dâng trào đến như thế".

Bây giờ thì Ông đã trở về với quê nhà, như tâm nguyện của Ông là " Quảng Bình là nhà tôi. Khi rãnh việc nước thì tôi về nhà". Ông đã trở về quê hương sau gần một trăm năm đi cứu nước, thành lập nước, bảo vệ đất nước bình yên và xây dựng đất nước giàu mạnh, giữa lúc quê hương đang tự hào chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 410 năm co danh xưng tỉnh Quảng Bình.

Lịch sử hình thành và phát triển của đất nước và Quảng Bình luôn gắn liền với tên tuổi và công lao cống hiến của Ông. Đúng như lời điếu do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc trong Lễ truy điệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: " Tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đánh giá cao công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp...Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của Đồng chí in đậm trong lòng dân, là vị tướng của nhân dân, mãi mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc...Đối với quê hương Quảng Bình, Đồng chí luôn giành sự quan tâm đặc biệt, mong mỏi Quảng Bình ngày càng phát triển, văn minh và giàu đẹp. Đồng chí là niềm tự hào to lớn của mỗi người dân Quảng Bình...".

Vũng Chùa, Đảo Yến - nơi Ông nằm yên nghĩ đã trở thành địa chỉ tâm linh của muôn triệu con người...

 

                                                       Đồng Hới, Tháng 11 năm 2013

                                                                                                                                                                                  K.C

Địa chỉ:              Kim Cương

          Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình

 

          Điện thoại: 0916897726 - 0166 888 2269

 

 

 

"...Vẫn biết là đã lao vào nghiệp chướng, và đã ngoài tuổi hoa giáp, nhưng không thể dứt bỏ để nghỉ ngơi được, vẫn sáng tạo và sẽ sáng tạo nhiều hơn để trả dần món nợ ân tình với cuộc sống..." 

********************************************

 

 

 

          Nhân duyên hai vị Đại tướng

               VỚI QUẢNG BÌNH

                                                Kim Cương

 

          Vào những năm đầu thập kỷ 10 của thế kỷ 21, vùng đất được gọi là khúc ruột miền Trung của đất nước đã sinh ra hai người con, mà sau này trở thành danh nhân, danh tướng của thời đại Hồ Chí Minh là Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Vịnh.

Năm Bác Hồ đi tìm đường cứu nước ( 1911), Võ Nguyên Giáp chào đời trên một vùng quê bên bờ sông Kiến Giang trong xanh của huyện Lệ Thủy – Tỉnh Quảng Bình. Ngày ấy, Hồ Chí Minh, gọi là Văn Ba, là Nguyễn Tất Thành, hẳn không hề biết rằng trên Tổ quốc mình, một người vừa chào đời và con người ấy, đúng 30 năm sau sẽ trở thành trợ thủ đắc lực của mình, 37 năm sau lại được Người phong hàm Đại tướng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, theo sự lãnh đạo của Người và Ban chấp hành trung ương Đảng chỉ huy toàn quân cùng toàn đảng, toàn dân, đánh bại 10 Đại tướng của đối phương, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại thống nhất non sông, trở thành danh nhân thế giới. Ông đã từ một người yêu nước ở tuổi học trò đến một người cộng sản chân chính – chân chính đến tận cuối đời; đã từ một giáo viên sử học không qua một trường lớp quân sự, trưởng thành từ thực tiễn chiến trường để trở thành một danh tướng, một tư lệnh của các tư lệnh, một chính ủy của các chính ủy, một vị tướng được toàn quân kính trọng, toàn dân yêu mến, thế giới ngưỡng mộ. Với 30 năm làm Tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông đã tỏ ra là người có phẩm chất phi thường, là “một thống soái quân sự cỡ lớn” như Đại tướng Mỹ Oet mo len đã đánh giá, là con người và huyền thoại như nhà sử gia Phương Tây Becna khẳng định, là “ một trong những thống soái lớn nhất của tất cả các thời đại” như Đại tướng Anh P M Đônan đã nói, là cây đại thụ rợp bóng nhân văn, là danh nhân thế giới, lừng danh khắp nơi...

Không đầy ba năm sau, bên dòng sông Bồ mát ngọt, ngày 1 tháng 1 năm 1914 Nguyễn Vịnh chào đời trong một gia đình nông dân ở thôn Niêm Phò – Huyện Quảng Điền – Tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thân phụ mất sớm, cuộc đời khổ cực và lòng căm thù bọn thực dân phong kiến, đã thúc dục ông sớm đi làm cách mạng. Tháng 7 năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, 4 tháng sau liền được cử làm Bí thư chi bộ Niêm Phò là tổ chức Đảng đầu tiên của huyện Quảng Điền, rồi tham gia tỉnh ủy lâm thời và đầu năm 1938 được bầu làm Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên. Bị thất bại trong dự án tăng thuế trước sự đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân và dân biểu trong tỉnh do ông lãnh đạo, tháng 9 năm 1938, thực dân Pháp và chính quyền Nam Triều đã bắt ông và một số cán bộ. Chúng đã đưa ông vào giam ở các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo, Buôn Mê Thuột. Năm 1941, Nguyễn Vịnh và một số đồng chí khác tổ chức vượt ngục thành công và trở về thành lập tỉnh ủy lâm thời tỉnh Thừa Thiên, ra sức xây dựng cơ sở cách mạng rộng khắp. Từ ngày 13 đến 18 tháng 8 năm 1945, ông được thay mặt tổ chức Đảng ở Trung Kỳ ra dự Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng ở xã Tân Trào – huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang. Khi nghe đồng chí Phạm Văn Đồng công bố danh sách bổ sung ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng gồm Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan. Nguyễn Vịnh ngạc nhiên quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp:Nguyễn Chí Thanh là ai? Đồng chí Võ Nguyên Giáp cười và trả lời: “ là anh chứ ai nữa. Chính Bác đã đặt tên mới cho anh đó!”. Nguyễn Vịnh ngỡ ngàng và vui sướng. Từ đó, cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của Quân đội ta, của cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị đó, Nguyễn Chí Thanh được chỉ định làm Bí thư xứ ủy Trung Kỳ.

Khi mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang cùng với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng đâng chỉ đạo các lực lượng vũ trang liên tiếp đánh mạnh vào bọn thực dân Pháp ở các tỉnh phía Bắc giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, thì ở miền Trung, với nhiều trọng trách khác nhau là Bí thư xứ ủy Trung Kỳ, rồi Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên, Bí thư Liên khu ủy IV Nguyễn Chí Thanh cũng hết mình, tập trung lãnh đạo toàn quân và toàn dân từng bước khắc phục những khó khăn, gian khổ bước đầu, tiếp tục chiến đấu. Ông củng cố lòng tin cho mọi người: “Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy, chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân”. Ông chỉ đạo phải chuyển sang tiến công địch, kiên quyết trở về vùng đang bị địch chiếm đóng, bám đất, bám dân, phát động phong trào chiến tranh du kích, phá tan chính sách bình định của địch. Năm 1948, ông đã cùng các đồng chí trong Phân khu ủy đi sâu nghiên cứu tình hình và ra Nghị quyết mở chiến dịch phá tề trong cả ba tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên. Đó là một chủ trương sáng suốt, kịp thời, làm cho cả hệ thống ngụy quyền địch ở cơ sở bị ta đập vỡ từng mảng lớn, làm cho chúng hết sức hoảng sợ. Hội tề tan rã, hệ thống đồn bốt địch bị trơ ra giữa vòng vây của nhân dân. Một vùng nông thôn rộng lớn của Bình Trị Thiên, sau chiến dịch đâu đâu cũng có chính quyền cách mạng, có dân quân, du kích hoạt động, nhiều đồn lẻ của địch bị tiêu diệt. Theo chủ trương đó, cán bộ và lực lượng vũ trang Quảng Bình cũng đã làm lễ hạ sơn, phát động phong trào quật khởi, về bám dân tiến công địch. Những cuộc hành quân của địch luôn bị bộ đội và du kích chặn đánh tại chỗ. Sau một thời gian tạm lắng, “Bình Trị Thiên khói lửa” đã vượt qua được những khó khăn hiểm nghèo, vươn lên hòa nhập với phong trào cả nước, từng bước tiến lên giành nhiều thắng lợi. Với thành công này, Bác Hồ đã tặng Nguyễn Chí Thanh danh hiệu  “Vị tướng du kích”.

Chiến trường Bình Trị Thiên đang bước vào thế chủ động tiến công, thì giữa năm 1950 Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ điều động đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào quân đội và giao cho đồng chí nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Phó Bí thư quân ủy Trung ương. Từ đó, bên cạnh Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ huy về quân sự, có thêm một vị lãnh đạo tài giỏi cùng chôn rau cắt rốn ở khúc ruột miền Trung, lãnh đạo về chính trị tư tưởng, thúc đẩy toàn quân nâng cao lòng yêu nước, lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, giữ vững bản lĩnh chính trị, với ý chí tiến công và quyết thắng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng tháng 2 năm 1951, cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Nguyễn Chí Thanh đều được bầu vào Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh được cử vào Bí thư Trung ương Đảng. Mùa hè năm 1957, Nguyễn Chí Thanh cùng với Bác Hồ vào thăm, mang đến Quảng Bình những tình cảm sâu sắc, những niềm tin yêu mới. Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng, là vị Đại tướng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai vị Đại tướng đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – hai người con ưu tú của khúc ruột miền Trung lại được bầu vào Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III ( tháng 9 năm 1960). Cũng vào năm đó, do yêu cầu của công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được phân công làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, chăm lo hòa thiện quan hệ sản xuất mới và phát triển sản xuất. Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, chuyển sang cương vị một người lãnh đạo, chỉ đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, trực tiếp với dời sóng, sự no đói của hàng chục triệu người. Hôm giao nhiệm vụ, Bác Hồ mời Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đến. Bác bảo: “ Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”.

Hợp tác hóa nông nghiệp là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, cần phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cần đi sâu, đi sát thực tế để nắm bắt và rút kinh nghiệm. Và, điểm đi sâu vào thực tế đầu tiên của vị Đại tướng lại là Hợp tác xã Đại Phong, thuộc xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy – huyện nhà của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vừa chỉ đạo, Đại tướng thường xuyên làm việc trực tiếp với Ban quản lý Hợp tác xã, đến tận từng nhà dân học hỏi kinh nghiệm, ra tận từng cánh đồng xem từng cách làm, khuyến khích mọi người tích cực khai hoang mở rộng diện tích. Bản chất của người nông dân nhưng đã được nâng cao thể hiện rõ nét ở vị tướng. Đại tướng vừa nghiên cứu khoa học kỹ thuật trên sách báo, học kinh nghiệm của nhiều lão nông, vừa tích lũy kinh nghiệm, gắn với sự sáng tạo, hướng dẫn, động viên mọi người tham gia sản xuất, tăng năng suất và tích cực xây dựng Hợp tác xã. Bằng cuộc đời khổ cực của mình, Đại tướng ân cần nói chuyện giáo dục tầng lớp thanh niên phấn đấu trở thành những chiến sĩ xung kích trong phong trào xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp. Đại tướng kể rằng: Thời trai trẻ, khỏe mạnh, Đại tướng vẫn làm ruộng quần quật suốt ngày, nhưng làm thuê cho nhà giàu để kiếm ăn. “ Tôi nhớ một hôm, tôi và một anh bạn nữa cùng đi guồng nước cho một nhà chủ. Khi chúng tôi vác guồng nước trở về, thì mụ chủ nhà hất hàm hỏi: “ Các chú guồng được mấy sào?”. Tôi đáp: “ Được năm sào”. Mụ chủ nhà không nói một câu, mặt bỗng nhăn như bị, hắn “giận cá chém thớt”, cầm thanh củi đánh con chó rồi chửi: “ mẹ cha mày, tao cho mày ăn cơm hay ăn cứt?”. Các đồng chí nghĩ xem là nó đã chửi ai, và bấy giờ chúng tôi bưng bát cơm của nó ăn thì bữa cơm đó thế nào? Bữa cơm trộn nước mắt các đồng chí ạ!. Các đồng chí cho biết, mỗi đồng chí đều có hai, ba bộ áo quần lành, đều đã được đi học. Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa bao lâu mà đời sống của chúng ta lên đến được như thế là đáng mừng...” Đại tướng cũng cho tầng lớp thanh niên biết rằng, thanh niên nông thôn ngày xưa không bao giờ được cuộc sống sung sướng như thế, quần áo vá chằng vá đụp, đi đằng xa nhìn cái áo đã biết người ấy là ai. Có người trời nắng tháng năm, chẳng ốm đau gì mà phải nằm đắp chiếu vì chỉ có một cái quần đùi đã giặt đang phơi. “ Nếu chúng tôi trước đây đã sống trong chế độ địa ngục, thì ngày nay các đồng chí đang sống trong chế độ thiên đường. Cách mạng đã đem lại ấm no và hạnh phúc cho mọi người...”. Qua những câu chuyện thực tế và gần gũi như thế, Đại tướng động viên mọi người tích cực hơn trong mọi công việc xây dựng hợp tác, xây dựng chủ nghĩa xã hội, động viên thanh niên tích cực khám phá khoa học kỹ thuật, lao động có kỹ thuật đồng thời biết tổ chức, biết quản lý, tham gia quản lý hợp tác xã, lao động hăng, lao động mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải trở thành những kiện tướng làm côn tác thủy lợi, kiện tướng khai hoang, làm phân bón và vượt tiêu chuẩn ngày công của hợp tác xã...Từ đó, phong trào xây dựng hợp tác xã ở Đại Phong ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành Hợp tác xã điển hình xuất sắc nhất toàn miền Bắc. Từ điển hình tiên tiến này, Đại tướng đã viết bài tuyên truyền kinh nghiệm và phát động các Hợp tác xã trên toàn miền Bắc học tập và thi đua với Đại Phong, đồng thời đến với nhiều địa phương khác trong tỉnh Quảng Bình và các tỉnh khác tiếp tục nhân rộng điển hình, để sau này lại nổi lên phong trào “ Vượt Đại Phong, đuổi kịp Cự Nẫm”. Hợp tác xã Cự Nẫm được tuyên dương danh hiệu “ Đơn vị anh hùng lao động” đầu tiên trong tỉnh Quảng Bình. Các Hợp tác xã Hà Xá và Hà Hồi ở tỉnh Hà Tây đều vươn lên thành đơn vị điển hình.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, thời gian được Đảng giao Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương không dài, nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có nhiều cống hiến quan trọng, góp phần tạo nên “luồng gió mới” trên đồng ruộng Việt Nam trong những năm tháng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lịch sử và tâm trí của hàng chục triệu con người Việt Nam còn in đậm phong trào “ Gió Đại Phong” – một mô hình nông nghiệp thời chống Mỹ mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã dày công tổng kết và chỉ đạo.

Quảng Bình tự hào đã sinh ra Đại tướng Võ Nguyên Giáp – danh nhân của thế giới, nhưng không bao giờ quên được tình cảm cao đẹp và công lao to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – người luôn gắn bó mật thiết với Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp phần làm nên những chiến công rạng rỡ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước – người đã dày công xây dựng Quảng Bình vững mạnh.

 

                                                                                                K.C

                                                                                                                  

                                                               

 Địa chỉ: Kim Cương - Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình

 

 Đt: 0916897726 - 01668882269

 

 

 

 

 

 

Bài viết của Nguyễn THị Kim Thanh Trường Đại học KHXH & NV- ĐHQG Hà Nội

NHÀ VĂN KIM CƯƠNG

Viết văn là để trả món nợ ân tình với cuộc đời

                                                Nguyễn Thị Kim Thanh

                                               Tr­ường Đại học KHXH & NV- ĐHQG Hà Nội

Dường như cuộc sống càng nhiều thử thách, thiên nhiên càng khắc nghiệt, chiến tranh càng dữ dội thì lòng người càng mạnh mẽ và lãng mạn hơn!. Con người nơi mảnh đất miền Trung nhỏ hẹp đầy nắng và cát, mảnh đất găm đầy những vết tích chiến tranh - Quảng Bình là một minh chứng!. Trải qua lịch sử đầy thăng trầm, biến động, không những không bị ngã gục mà con người Quảng Bình còn viết lên bao trang sử oai hùng đẹp như một huyền thoại. Cái sống ươm mầm từ trong cái chết, Quảng Bình đã sản sinh ra bao lớp nhà văn, nhà thơ với những vần thơ, bài ca “đi cùng năm tháng”  (từ Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh … trong phong trào Thơ Mới, tới Lâm Thị Mỹ Dạ, Bảo Ninh … và còn bao tên tuổi khác nữa).

Rất may cho tôi, trong chuyến đi thực tế Quảng Bình vừa rồi được gặp gỡ với các nhà văn – nhà thơ trong Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình, đặc biệt được tiếp xúc và trao đổi với nhà văn Kim Cương – Nhiều nhiệm kỳ liên tục là Uỷ viên thường vụ, Ban chấp hành Hội, là Trưởng ban kiểm tra, Trưởng phân hội văn học Quảng Bình. Ông đã tham gia công tác và chiến đấu trong lực lượng Công an nhân dân gần 40 năm, được phong hàm Đại tá. Cuộc đời hoạt động của ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng ba, Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huy chương Vì an ninh Tổ quốc, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, được Chính phủ tặng Bằng khen; được các ngành tặng thưởng các Huy chương: Vì sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp báo chí, Vì sự nghiệp tư tưởng văn hóa Việt Nam, Vì sự nghiệp Văn hóa thông tin Việt Nam, Vì sự nghiệp thể dục thể thao Việt Nam, Vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam và được Bộ Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh và Hội nhà báo Việt Nam tặng thưởng hơn 10 bằng khen...Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng quả thực đã để lại trong tôi bao ấn tượng và cảm xúc về con người và mảnh đất nơi đây.

Làng Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình  là quê hương của nhà văn Kim Cương. Sinh ra và lớn lên giữa cảnh nước nhà bị giặc ngoại bang xâm lược, tuổi thơ của ông gắn liền với những lần tản cư, chạy giặc khắp núi rừng Minh Hoá trên đôi quang gánh gồng của cha mẹ. Nét tinh nghịch của tuổi trẻ, ý thức dân tộc và lòng căm thù giặc luôn tiềm sẵn trong con người ông, nhưng nghiệp văn và con đường văn chương  lại đến với ông rất tình cờ, dường như là một định mệnh, một cái duyên may không phải ai cũng có! Trong một lần tự bạch, chính nhà văn Kim Cương đã tâm sự: “Nhiều nhà văn, nhà thơ trưởng thành và lớn lên từ lời ru của mẹ. Còn tôi, lúc còn thơ, cha mẹ gánh đi chạy giặc, tản cư khắp núi rừng Minh Hoá, còn đâu nôi, võng và lời ru. Chỉ phần tinh nghịch tôi luôn sẵn có. Nghịch ngợm suốt cả chiều dài học trò… Mỗi lần lớp, hoặc chi đoàn, Đoàn trường làm báo tường, báo liếp, đều phân tôi phụ trách. Thế là không chỉ trình bày mà phải rán cả thơ, văn. Còn chỗ trống là phải cố rặn cho ra bài để “chêm vào”. Làm lâu cũng thành vần thành tứ. Rồi cảm xúc cứ lớn dần lên. Nhiều mẫu văn, bài thơ từ trong mình tuôn ra dành cho tình yêu, tình bạn và bao người đã khuất vì giặc Mỹ giết hại, được tôi chép cẩn thận vào sổ”. Như vậy từ một sự tình cờ mà một cậu bé con  trở thành nhà văn. Từ giã đời học sinh, trang giấy trắng học trò, chàng thanh niên ấy thật sự bước vào nghiệp văn chương và báo chí với một niềm đam mê và nhiệt huyết tuổi trê.

Đọc những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông, tôi nhận thấy đề tài người lính và chiến tranh là đề tài xuyên suốt trong hầu hết các sáng tác (chính nhà văn từng tâm sự: mảng đề tài này chiếm hơn 90% số lượng tác phẩm). Chỉ cần nghe qua tên gọi, người đọc cũng có thể thấy được điều đó: tập truyện ký Đồng đội, Bài ca lặng lẽ, Cuộc săn đuổi bí mật; bộ ba tiểu thuyết Người quy phục hoàng đế, Hoa dạ hương, Tiếng nổ sau chiến tranh và tập ký sự dày hơn 630 trang Đường qua tuyến lửa… Dường như đã trở thành một ám ảnh không thể xoá nhoà, các nhân vật trong tác phẩm của ông  mặc dù đang sống trong hiện tại nhưng luôn tự mình làm những cuộc hành trình ngược thời gian để hoài niệm và làm sống dậy những phút giây quá khứ của một thời khói lửa. Các nhân vật luôn chập chờn đi giữa hai bờ quá khứ - hiện tại, hồi ức - hiện thực. Mảnh vụn của quá khứ luôn thường trực nên chỉ cần một xúc tác nhỏ, một khuôn mặt, một tiếng nói cũng đủ sức lôi họ trở về quá khứ, để viết tiếp dòng đời còn dang dở. Đối với các anh, quá khứ là một phần không thể tách rời của hiện tại và chỉ có thể soi mình vào quá khứ mới có thể thấy được giá trị của chính bản thân. Ngay những dòng đầu tiên trong truyện ngắn Người hát rong, nhà văn Kim Cương đã viết “Chuyến tàu tốc hành vụt lao nhanh qua ngã ba Thọ Lộc và ga Ngân Sơn, nhưng bao kỷ niệm xa xưa cứ níu lòng tôi lại…”. Truyện của Kim Cương suy cho cùng là tiếng đồng vọng của một quá khứ “không thể nào quên”, là nén nhang thơm tưởng nhớ một thời binh đao đã trở thành bất tử.

Người lính trong sáng tác của Kim Cương không chỉ được khai thác ở điểm nhìn trong quá khứ mà còn được quy chiếu ở góc nhìn hiện tại. Người lính anh dũng, ngoan cường trong chiến tranh liệu trước những cám dỗ của thời bình có còn giữ được bản chất anh hùng “uy vũ bất năng khuất” như xưa. Trong truyện của mình, Kim Cương đã để nhân vật - người chiến sỹ  đối mặt trực diện với những đòi hỏi của cuộc sống, qua đó làm ngời sáng lên phẩm chất và tấm lòng kiên trung của người lính cụ Hồ!. Đó là hình ảnh anh Khang anh dũng, quả cảm trong chiến đấu và giỏi giang trong lao động sản xuất. Từ hai bàn tay trắng, từ mảnh đất giăng đầy bom mìn anh đã “trở thành ông chủ một vùng đồi rộng mênh mông hơn nửa trăm hecta với đủ binh chủng cây con: cao su, bạch đàn, cà phê…” (Trích Vàng trên lửa); Đó có thể là tình cảm đồng đội thắm thiết qua bức tranh đoàn tụ ở phần cuối thiên truyện cảm động mang giá trị nhân văn cao đẹp Đồng đội: giữa lao tù, không phân biệt phạm nhân – giám thị, không câu nệ người trên kẻ dưới “Cả bảy người: Mẹ tôi, Nguyễn Dũng, mẹ con Thanh Hương, vợ chồng và con tôi ôm chặt lấy nhau trong căn phòng  hạnh phúc. Những giọt nước mắt nồng ấm của buổi gặp mặt thấm vào nhau, kết chặt nhau như sự kết chặt của tiểu đội tôi năm nào”. Đồng đội hay chính  là một khúc ca chân thực mà cảm động về tình đồng chí – tình người!

Là một nhà văn nhưng trước hết Kim Cương là một người lính trong hàng ngũ Công an nhân dân. Hàng ngày được tiếp xúc, lắng nghe và tìm hiểu về nhiệm vụ, công việc đầy vất vả của các chiến sỹ… những tình cảm tốt đẹp, trân trọng, cảm phục ấp ủ trong lòng, lớn dần lên theo thời gian để cuối cùng thăng hoa thành các nhân vật, các trang viết. Qua bộ ba tiểu thuyết Người quy phục hoàng đế, Hoa dạ hương, Tiếng nổ sau chiến tranh, và một số truyện ngắn khác, hình ảnh người chiến sỹ Công an nhân dân hiện lên thật đẹp: giản dị, gần gũi, mộc mạc, đời thường mà cao cả, bản lĩnh, thông minh mưu trí, khôn khéo trong mọi hoàn cảnh và ý thức trách nhiệm . Những người chiến sỹ ấy tình nguyện dâng hiến đời mình để bảo vệ những giây phút yên bình của nhân dân. Tất cà vì sự nghiệp bình yên của cuộc sống – dường như đã trở thành một mẫu số chung của các chiến sỹ công an. Các anh, bằng tài trí và tấm lòng nhiệt huyết của mình đã viết nên bao chiến công hiển hách như những truyền thuyết nhưng không hề có ý tự mãn, tự cao tự đại mà vẫn âm thầm cống hiến, dâng cho đời những hương thơm thanh khiết!. Hình ảnh các chiến sỹ trinh sát an ninh cũng giống như hình ảnh cây hoa dạ hương (trong một tác phẩm cùng tên Hoa dạ hương) “… vẫn giản dị một sắc lá màu xanh, cây cành nhỏ bé, hoa li ti, lấm tấm, không bao giờ muốn khoe tài, lộ diện, giấu kín bao nỗi chuân chuyên, lặng lẽ dâng hương thơm cho muôn loại”.

Đề tài chiến tranh và người lính là một đề tài vừa dễ vừa khó, hấp dẫn nhưng cũng đầy thử thách. Trong lần gặp gỡ với ông, tôi đã mạnh dạn hỏi: “Thưa bác, mảng đề tài người lính và chiến tranh không phải là đề tài mới mẻ hay xa lạ gì. Nó đã được nhiều, thậm chí rất nhiều cây bút đi sâu khai thác, xới tung lên. Trong đó có rất nhiều văn nghệ sỹ đã thành danh và cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng (đạt giá trị cao về cả nội dung và hình thức biểu hiện). Liệu lựa chọn mảng hiện thực này, bác có sợ rằng mình sẽ bị “cớm bóng”. Hơn nữa, chiến tranh đã lùi xa, con người thời hiện đại đang bận mải trong guồng quay của danh vọng, của những lo toan, bon chen của cuộc sống thường nhật. Liệu rằng cái hiện thực tuy hấp dẫn nhưng không mới kia, cái quá khứ hào hùng nhưng khó viết kia còn thu hút họ?. Hay có khi nào bác cảm thấy bất lực với chính đề tài mình chọn?. Với không ít khó khăn như vậy (mà cháu biết là bác ý thức rất rõ)  sao bác vẫn lựa chọn và trung thành với nó?”

Mỉm cười, nhà văn Kim Cương tâm sự: Viết nhiều, nói nhiều nhưng không phải đã là tất cả. Cùng một đề tài nhưng mỗi người có thể nhìn nó theo lăng kính của riêng mình. Và vẫn còn nhiều lắm những điều cần nói, cần bàn, cần xem xét lại, cần viết và quan trọng hơn là làm sao cho độc giả đọc những đề tài cũ nhưng vẫn thấy bị nó lôi cuốn, thấy nó lạ, nó mới. Ai dám bảo viết nhiều về chiến tranh, về người lính, về quá khứ như thế là đã đủ  khi mà chiến tranh đã và vẫn luôn là thảm hoạ của nhân loại - đâu đã lùi vào quá khứ, là câu chuyện của dĩ vãng; khi mà khát vọng yêu hoà bình của con người luôn cháy bỏng. Và nói về chiến tranh, suy cho cùng là một lần nữa khẳng định lại khát vọng ấy mà thôi. Hơn nữa, là một nhà văn, bác cảm thấy mình còn mắc nợ nhiều lắm đồng đội, quá khứ và đã nợ thì dĩ nhiên phải trả thì mới nhẹ lòng!

Trong các truyện ngắn, tiểu thuyết của mình, không hề lạm dụng mà chỉ dựa vào những chi tiết thực của đời sống, nhà văn Kim Cương đã lựa chọn, gạn lọc, chưng cất, ấp ủ chúng nơi trái tim và nâng lên thành chất liệu nghệ thuật. Dưới bàn tay của “nhà ảo thuật ngôn từ” (theo Nguyễn Tuân, mỗi nhà văn là một nhà ảo thuật về ngôn từ) các chất liệu thô nháp của hiện thực phút chốc được biến hoá, được thổi linh hồn của sự sống. Các trang viết rất giản dị, không cầu kỳ nhưng giàu giá trị thẩm mỹ. Nó thể hiện sự từng trải và một phông văn hoá, kiến thức phong phú, khá vững chắc của tác giả. Không gian trong các tác phẩm của ông phần lớn gắn liền với những địa danh nổi tiếng của dải đất Bình -  Trị - Thiên. Phải hiểu biết lịch sử và yêu lắm mảnh đất, xứ sở quê hương Quảng Bình và xứ Huế mộng mơ mới có thể viết nên những trang văn đậm đà tính sử và trữ tình như thế.  Ví như trong bộ ba tiểu thuyết Người  quy phục  hoàng  đế, Hoa dạ hương, Tiếng nổ sau chiến tranh, hay tập ký sự  Đường qua tuyến lửa “bằng cái nhìn lịch sử, tác giả đã soi lại trăm năm lịch sử của dân tộc từ thời Tây Sơn khởi nghĩa đến các thời đại sau này qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ tạo nên chiều sâu đáng kể cho tác phẩm” (Trích Lời tựa Tiếng nổ sau chiến tranh),

Điểm nhìn của người kể chuyện trong tác phẩm dịch chuyển khá linh hoạt, khi xưng “tôi” kể lại câu chuyện được nghe, được chứng kiến; khi lại tâm sự và hồi tưởng về chính cuộc đời của mình; khi lại ẩn đằng sau, không lộ diện và đẩy nhân vật của mình lên phía trước. Chính sự dịch chuyển linh hoạt này đã tước đi vẻ nhàm chán, đơn điệu do chỉ bó gọn trong một góc quay, tạo ra cái nhìn đa chiều, phong phú cho câu chuyện được kể.  Nhiều trang viết không chỉ dừng lại ở việc kể lể, miêu tả đơn thuần, liệt kê dài dòng các sự kiện, biến cố mà có sự kết hợp khéo léo giữa tả và kể, vừa tả vừa hướng tới quá trình khám phá và biểu hiện sinh động các diễn biến tâm lý, tính cách của nhân vật. Có nhiều trang viết có thể nói là đã đạt tới thành công về chất lượng nghệ thuật, về ngôn ngữ, giọng điệu và cách thức thể hiện với những câu văn thi vị đầy hình ảnh.

Viết về chiến tranh, về người lính, về những chiến công thầm lặng, những vụ phá án ngoạn mục của các chiến sỹ công an nhân dân nhưng những trang văn của nhà văn Kim Cương không hề khô khan, cứng nhắc mà rất gợi mở, dư tình, thấm đẫm cảm xúc. Viết mà như một tiếng nói tri âm với đồng đội, với quá khứ, với dân tộc và với chính mình!. Thành công bước đầu trong việc tìm tòi, đổi mới cách thức thể hiện tư tưởng cũng như như sự chưng cất, chắt lọc những dòng cảm xúc của nhà văn đã tạo nên những trang viết “giăng mắc bao ý tưởng, lay gợi sâu xa tâm thức người đọc”.

Người ta thường nói viết văn là hư cấu, là sáng tạo. Đúng nhưng chưa đủ.  Vì hư cấu, sáng tạo nhưng phải dựa trên chất liệu của hiện thực, phải đảm bảo được tính chân thực của các sự kiện. Viết văn hay là một phú bẩm của trời. Dễ nhưng khó. Ai cũng có thể viết văn nhưng không phải ai cũng có thể thành nhà văn.  Vì công việc sáng tạo này đòi hỏi bề dày vốn sống và sự trải nghiệm của mỗi người. Và theo nhà văn Kim Cương thì đấy là yếu tố quan trọng nhất. Ông đi nhiều, biết nhiều, hiểu nhiều  mới có thể chưng cất để viết nên những trang văn hay được. Điều đó cũng cắt nghĩa tính chân thực trong các trang viết của ông. Sinh ra và lớn lên trong thời chiến, từng là phóng viên chiến trường Bình - Trị - Thiên khói lửa, ác liệt một thời, Kim Cương đã trực tiếp đi nhiều nơi để thu thập tin tức viết bài. Những địa danh nổi tiếng một thời: Đường­ Ba Trại, Phà Gianh, Quán Hàu, Ngã ba Thọ Lộc, Phà Xuân Sơn, Tuyến đường 10 – 12A – 15 – 20 … đã trở nên quá quen thuộc với nhà báo năng nổ, yêu nghề này. Những chiến công, những tấm gương anh dũng hi sinh, những câu chuyện tình éo le … tất cả đã trở thành vốn sống, thành kỉ niệm, thành hồi ức một thời cứ luôn ám ảnh và day dứt mãi những trang viết của Kim Cương.  Sau này khi nước nhà dành được độc lập, ông lại công tác tại Phòng công tác chính trị của Công an tỉnh,  thường xuyên được nghe và ghi chép những chiến tích của các chiến sỹ … Chính thực tế đó đã cho phép ông có một cái nhìn khá toàn diện, khách quan, chân thực về cái nghề nguy hiểm - Công an, về cuộc sống và hy sinh thầm lặng của những ngưòi lính trên mặt trận chống kẻ thù.

Mặc dù trong tay đã có bộ ba tiểu thuyết dày dặn, một tập ký sự 630 trang, một tập truyện ký, rất nhiều tập in chung đ­­ợc đọc giả đánh giá tốt , đang có m­­ời mấy truyện ngắn in rãi rác trên các báo và tạp chí  của Trung ­­ơng và địa ph­­ơng ch­­a in thành tập và đang hì hục với hai bản thảo của hai tập tiểu thuyết và kí sự, nhiều bạn bè mãi thúc dục vào Hội nhà văn Việt Nam, nh­­ng ông vẫn ch­­a muốn làm đơn xin vào Hội. Với ông, viết văn như một phần không thể thiếu, không thể bỏ dù biết rằng cái nghề văn này cũng bạc lắm, lao vào nó là “lao vào nghiệp khổ, không phải nghiệp sướng”  nhưng lại như một duyên số khó dứt. Sáng tác văn chương như là một thú đam mê, một thôi thúc trách nhiệm hơn là một công việc và cái danh. Ông nói: “Nhiều khi không muốn viết nhưng các nhân vật cứ bao quanh mình, buộc mình phải tạo cho nó sự sống, kêu gọi một hình hài, một sinh mệnh, và thế là mình lại phải cầm bút và viết. Viết để không quên quá khứ. Viết để mọi người thấy được quá khứ và không bỏ rơi nó. Có quá khứ mới có hiện tại, tương lai. Mất quá khứ là mất tất cả. Mà đó lại là một quá khứ hào hùng và rất đỗi tự hào. Quá trình sống, lao động và trải nghiệm đã cho mình nhiều chất liệu, nhiều hồi ức và nếu để rơi rớt dần thì thật tội lỗi. Nên mình cố lao vào, cố ghi lại để sau này nếu có đột ngột ra đi thì cũng không sợ, rằng mình đã trả xong cái nợ với lương tâm và cuộc đời”. Nếu không phải là người có trách nhiệm và yêu nghề, yêu cái nghiệp văn chương, có ý thức với cuộc đời thì làm sao có được những tâm tư gan ruột và tha thiết đến thế!

Viết được và được viết – đó là điều rất thiêng liêng đối với một nhà văn. Mỗi một nhà văn sẽ có một con đường đến với văn chương, một quan điểm sáng tác và ấp ủ mục đích viết khác nhau. Đối với nhà văn Kim Cương, viết là để trả món nợ ân tình với cuộc đời, để vơi bớt những tích tụ, để được chia sẻ những trăn trở day dứt cho nhẹ lòng, mong sao tác phẩm của mình góp phần thanh lọc tâm hồn người, để lòng người hướng thiện hơn, để quá khứ sống mãi… Ý thức trách nhiệm và lòng yêu nghề của ông khiến tôi vô cùng trân trọng và cảm động.

Con người Quảng Bình là thế đấy: giản dị, mộc mạc, không đao to búa lớn nhưng chân thành, đầy nhiệt huyết và rất kiên trung với những gì mình đã lựa chọn. Một lần đến thăm Quảng Bình, vâng - một ấn tượng đẹp khó phai!

 

                                                                 

 

K.T

 

 

 

Kim Cương: Chuyện tình qua 40 năm....

CHUYỆN TÌNH

QUA 40 NĂM

 

 

          Ngọc Thanh vào Học viện an ninh được hai năm, thì Bích Hạnh nhập trường. Bích Hạnh dáng cao, làn da trắng nõn, khuôn mặt trái xoan đượm nét thanh tao, đôi mắt tròn lúc nào cũng lúng liếng dưới hai hàng mi uốn cong, trông như người mẫu, thường đi trên một chiếc xe Atila đỏ. Ngọc Thanh từng gặp rất nhiều người đẹp, kể cả người đẹp trong tranh, người đẹp thi hoa hậu trên ty vi, nhưng chưa người nào có sức gợi cảm và hấp dẫn như cô. Ngày nào không nhìn thấy Bích Hạnh như bị mất đi một điều gì đó!.

          Một sáng chủ nhật, chàng si tình Ngọc Thanh lửng thửng đến quán cafe ngồi nhâm nhi bên chiếc bàn con sát lan can, đang đưa mắt nhìn mơ màng mặt hồ phủ dày hoa súng, bỗng có tiếng của một phụ nữ.

          - Em chào anh ạ!.

          Ngọc Thanh giật mình quay lại, thì trước mắt là Bích Hạnh. Chàng chưa kịp đáp lại lời chào của " thần tượng", Bích Hạnh đã chỉ vào chiếc ghế đối diện còn trống nói:

          - Em ngồi đây có được không ạ?.

          - Được!...được!...được! - Ngọc Thanh như bị líu lưỡi nói: - Em uống gì?...

          - Cho em một ly cafe sữa! - Bích Hạnh nhỏ nhẹ nói.

          Đối với Ngọc Thanh, cuộc gặp mặt này được xem như một sự kiện lớn trong cuộc đời. Quả là trời cho. Trời đã biến niềm ao ước và ước mơ của chàng lâu nay thành hiện thực. Chàng luôn ngước mắt nhìn Bích Hạnh. Từ nàng toả ra một khí chất gây cho chàng cái cảm giác toàn thân lâng lâng, xao động, ý thức được, mà không thể nói thành lời!. Phải vài phút sau, Ngọc Thanh mới mở được miệng.

          -Chủ nhật mà em đi uống cafe xa thế?- Ngọc Thanh nhẹ nhàng hỏi.

          - Vì em quen uống ở đây rồi - Bích Hạnh trả lời, rồi đưa đôi mắt đầy gợi cảm nhìn Ngọc Thanh hỏi lại: - Sao anh biết em ở xa đến?.

          - Anh biết, biết ngay từ buổi đầu em bước chân vào cổng Học viện an ninh.

          - Vì sao anh biết?.

          - Trước hết xin tự giới thiệu: anh tên là Ngọc Thanh, đầy đủ hơn là Nguyễn Ngọc Thanh, đã vào Học viện trước em hai khoá. Hôm ấy anh trực ban trước cổng, có được xem giấy tờ của em.

          - Hàng trăm học sinh mới vào trường vậy mà anh nhớ được. Trí nhớ của anh quá cực kỳ!.

          - Anh không chỉ nhớ mặt, còn nhớ cả tên rất hay của em là Hoàng Mai Bích Hạnh, biết em là người thủ đô, có nhà bên Hồ Tây thơ mộng...

          - Gớm, nói về em mà cứ như anh đang đọc thơ, tả cảnh vậy.

          - Bởi ngay từ đầu, anh đã cảm nhận em như một nàng thơ, một nàng tiên sa.

          - Thôi, đừng nói nhiều mà em ngượng...- Bích Hạnh vừa cười - một nụ cười rất trong sáng, giản dị, thể hiện con nhà gia giáo, lúc nào cũng thoả mái, nhẹ nhàng, đằm thắm. Như muốn cắt ngang những lời tâng bốc mình, nàng nhìn Ngọc Thanh hỏi:

          - Quê của anh Ngọc Thanh ở đâu?. Giọng nói của anh gần giống giọng bà nội của em quá!.

          - Anh ở Quảng Bình, còn bà nội của Bích Hạnh ở đâu?.

          - Bà em người Quảng Trị.

          - Quảng Trị và Quảng Bình xem như là một. Thời chống Pháp là một chiến trường khói lửa, sau chiến tranh chống Mỹ, một thời là một tỉnh với nhau, luôn gắn bó bên nhau, cùng chung lưng đấu cật, đói no, khổ cực có nhau, như người một nhà, hèn chi chúng mình không hẹn mà cũng gặp nhau...

          - Có phải anh là trưởng Hội đồng hương Quảng Bình trong trường không ạ?.- Bích Hạnh hỏi tiếp.

          - Các bạn bầu lên thì anh phải làm, cũng mong sao kết dính được tình cảm quê hương, để gần gũi nhau hơn, thương yêu nhau hơn, giúp nhau học và phấn đấu tốt hơn ấy mà!...

          - Em cũng đã được nghe anh là học giỏi của trường. Mới tiếp xúc anh lần đầu mà thấy anh giỏi quá!. Nghe anh nói mà như mình đang trong lớp học chính trị, học văn vậy!. Hôm nào rảnh rỗi, mời anh xuống nhà em chơi!.

          - Cảm ơn người đẹp!. Anh thích Hồ Tây lắm. Tây Hồ quá đẹp. gần như tuần nào anh cũng đến đó một lần để chiêm ngưỡng...

                                                         

                                                          *

                                               

                                                *                 *

          Từ cái buổi đầu đầy cởi mở và gợi cảm ấy, Ngọc Thanh và Bích Hạnh càng gần gũi thân thiết với nhau hơn. Hai người luôn quấn quýt bên nhau, một ngày không gặp được nhau là thấy nhớ. Hai chiếc  máy điện thoại di động của chàng và nàng lưu đầy tin nhắn, với bao lời yêu thương. Chủ nhật nào Ngọc Thanh cũng được Bích Hạnh mời về nhà chơi. Ba mẹ của Bích Hạnh đều là những người học cao, biết rộng, đang là chủ của một doanh nghiệp làm ăn phát đạt, là doanh nhân " Sao vàng đất Việt", sống trong một biệt thự sang trọng, soi bóng trên mặt Hồ Tây, có cả ô tô " xịn" và nhiều tiện nghi cao cấp, nhiều cây cảnh quý hiếm. Nhìn nhà, nhìn tài sản và nhìn cách sống, Ngọc Thanh cảm nhận là một nhà giàu, sang, nhưng sống rất văn hoá. Thực tình, lúc đầu Ngọc Thanh - cậu thanh niên nhà quê, từ một vùng đất xa xôi, nổi tiếng nghèo đủ thứ, rất ái ngại, trong lòng cứ nghĩ rằng mình đang trong cảnh " Đũa mốc chòi mâm son", không ngờ lại được Bà, ba mẹ Bích Hạnh niềm nở đón tiếp rất thân mật, xem Ngọc Thanh như con, không có một biểu hiện gì ngăn cản sự quan hệ của cậu và Bích Hạnh. Cậu em trai của Bích Hạnh tên là Duy Nghĩa, đang học lớp chín, vẻ rất thông minh cứ bám chặt Ngọc Thanh bắt kể chuyện. Từ Ngọc Thanh, cậu bé càng hiểu biết nhiều hơn về Hồ Tây.

          - Anh Ngọc Thanh ơi, Hồ này còn có tên gọi là gì nữa không? - Duy Nghĩa  nhìn ra Hồ Tây hỏi:

          - Theo truyền thuyết thì Hồ Tây có từ thời Hùng Vương.- Ngọc Thanh  nói:- Lúc đầu Hồ được gọi là Đầm Xác Cáo, gắn với sự tích con hồ ly tinh chín đuôi, sống hơn ngàn năm, có thể biến thiên hình vạn trạng, khi thành người, khi thành quỷ ở khắp dân gian. Hồ Tây lúc đó là cái hang của con cáo chín đuôi phá hoại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá, nên hồ có tên là đầm Xác Cáo...

          - Thưa nhà sử học - Bích Hạnh vừa bê ra một đĩa hoa quả và nước uống đặt lên bàn, vừa cười và nói: - Rồi sau đó là thế nào nữa ạ?.

          - Sau đó hồ còn có tên là Hồ Kim Ngưu,gắn liền với truyền thuyết con trâu vàng và Thiền sư Minh Không, rồi tên Lãng Bạc, Đàm Đầm. Đến năm 1573, để tránh tên huý của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi thành Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ cũng để sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàm Châu. Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của Hồ Tây...

          - Sao mà anh giỏi thế - Bích Hạnh nói: - Anh cứ như là cái kho tư liệu ấy, chuyện gì cũng biết. Em là người sinh ra và lớn lên bên bờ hồ này, mà chẳng biết gì cả!.

          - Chẳng qua là sở trường thôi. Em hát hay thì thích tìm bài hát hay để hát. Còn anh thích phong cảnh và nghiên cứu lịch sử thì tìm sử mà đọc, đọc nhiều thành biết nhiều...

          - Anh thấy Hồ Tây như thế nào? - Bích Hạnh nhìn vào mặt Ngọc Thanh cười.

          - Hồ Tây đẹp tuyệt vời. Đẹp như Bích Hạnh vậy. Cao Bá Quát đã từng ví Hồ Tây như nàng Tây Thi...

          - Nịnh này!...- Bích Hạnh đưa hai bàn tay mát dịu áp vào hai má của Ngọc Thanh, đưa đôi mắt long lanh nhìn Ngọc Thanh cười và nói: - Nghe anh nói chuyện thì nghe cả ngày không hết. Em đi dọn cơm đây!...

          Bích Hạnh vào nhà. Duy Nghĩa cũng vào theo. Còn lại một mình với bộ bàn ghế rễ cây cổ thụ, dưới mái lá cọ, Ngọc Thanh phóng cả tầm mắt lướt trên mặt Hồ Tây, ngất ngây với danh thắng. Hồ là mặt gương soi Hà Nội, là góc lãng mạn trong bức tranh Hà Nội đa màu, là thế giới của những làn gió trong trẻo và mát lành. Không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông với trên 500 ha, không chỉ có sắc tím bằng lăng, cánh hoa phượng hồng mỗi độ hè về, cái buồn mang mác của không gian, của rặng liễu rủ những ngày đông... Hồ Tây còn đẹp bởi nó như một trái tim ôm trọn trong mình những trạng thái buồn vui của biết bao con người... Có một điều mà Ngọc Thanh không tài nào giải thích được những sự trùng hợp giữa chàng và Bích Hạnh. Yêu thiên nhiên, ba mẹ Bích Hạnh đã chọn bờ Hồ Tây làm nơi cư ngụ. Dù hồ chưa đẹp lắm, nhưng ở trong quê, ba của Ngọc Thanh cũng chon bờ hồ Lục Trâm để dựng nhà ở và làm vườn. Cả hai nhà đều có con vào Công an và hai đứa con cũng đã gặp nhau trong một buổi bên một chiếc bàn cafe nở đầy hoa súng tím biếc!. Ngọc Thanh đang bị chìm trong bao suy nghĩ mung lung, thì có tiếng của mẹ Bích Hạnh.

          - Đang làm thơ đó hả!- Mẹ của Bích Hạnh bê mâm cơm ra đặt lên bàn và nói: - Vào rửa tay để ăn trưa đi con!.

          Tiếng " con" của mẹ Bích Hạnh rất nhẹ nhàng, có vẻ rất âu yếm nữa mà sao trái tim của Ngọc Thanh cứ rung lên. Tiếng gọi quá thân thương, gần gũi và cảm động vô cùng. Từ ngày mang hành lý trở lại trường, với lời động viên của ba mẹ  "cố gắng lên con nhé!", đến ngày cuối năm học này, Ngọc Thanh mới được nghe lại tiếng gọi bằng " con" như thế. Bữa cơm cũng thật đầm ấm, vui vẻ. Ba của Bích Hạnh rót vào các ly đầy bia mời cả nhà nâng ly, rồi cười và nói:

          - Vui lắm, nhưng không biết vui vì lý do nào đây!.

          - Ba thích vui điều gì thì xướng đi - Bích Hạnh nói.

          - Ừ, thì ba xướng, nhưng xướng ra thì phải trả lời cho thật - Ba Bích Hạnh vừa cụng ly với Ngọc Thanh, uống một hơi rồi nói tiếp: -  Có phải hai anh chị đã có cảm tình với nhau rồi phải không?...

          - Cái ông này! - Mẹ của Bích Hạnh cắt lời ba: - Yêu thì nói yêu nhau rồi phải không, còn nói là cảm tình, nhìn thì biết rồi hỏi gì nữa, mà hai đứa thương yêu nhau thì ý ông thế nào?.

          - Thế nào nữa, đó là quyền của hai đứa. Ba mẹ chẳng tính toán, so đo gì đâu, thấy hai con đã đứng trong hàng ngũ công an là tin lắm rồi, miễn là hai con biết thương yêu nhau, tôn trọng nhau, tạo thuận lợi cho nhau phấn đấu tốt và sống hạnh phúc, là ba mẹ luôn luôn ủng hộ. Trước mắt, hai con phải giúp nhau tập trung trí tuệ học thật giỏi, để sau khi ra trường công tác tốt, các con thấy thế nào?.

          - Ngọc Thanh và Bích Hạnh chỉ biết " dạ " một tiếng rồi nhìn nhau cười tủm tỉm. Ngọc Thanh quá cảm động và không ngờ mối tình của mình với Bích Hạnh lại tiến triển nhanh đến thế. Cậu ngồi lặng im như muốn khóc. Hiểu rõ tâm trạng của cậu, ba Bích Hạnh khơi dậy niềm vui.

          - Nào, uống tiếp đi - Ba Bích Hạnh lại nâng ly và chuyển chủ đề: - Cách đây gần hai năm, ba có một chuyến đi vào Quảng Bình làm từ thiện. Công ty của ba được giao tặng cho một gia đình thương binh ở làng ... làng...- Ông bỗng đưa một ngón tay gõ vào đầu vẻ căng thẳng: - Làng gì mà tự nhiên lại quên tên, chỉ nhớ chủ của gia đình tên là Nguyễn Quảng Hà, đang nuôi bố là thương binh cụt một chân và mù mắt trái. Ba đã trực tiếp trao ba chục triệu đồng cho vợ chồng ông ấy và được đặt viên đá móng đầu tiên cho ngôi nhà mới...

          Câu nói của ba Bích Hạnh đang giữa chừng đã làm cho Ngọc Thanh giật cả mình và sốt sắng hỏi lại:

          - Dạ, có phải ngôi nhà lụp xụp ấy cách đường nhựa chừng ba trăm mét, nằm bên một cái hồ nước rất rộng, quanh hồ là những rừng thông to cao, quanh vườn toàn trồng cây ăn quả và cây cao su đã cao hơn quá đầu người rồi không ạ?.

          - Đúng!, đúng!- Ba Bích Hạnh gật đầu và nhìn Ngọc Thanh hỏi:- Thế con cũng biết gia đình ông bà ấy à?.

          - Dạ thưa, đó là nhà của cháu ạ!- Ngọc Thanh xúc động nói:- Cháu đã nghe ba mẹ kể lại và hè năm ngoái đã được sống thoả mái trong căn nhà tình nghĩa sâu nặng ấy. Cháu chỉ biết ơn, mang nặng ơn nghĩa đó và thầm hứa là cố học thật giỏi, sau này ra công tác thật tốt, để khỏi phụ lòng những người đã giúp mình vượt qua khó khăn, không ngờ hôm nay đã rất vui, lại gặp được cô chú là an nhân của gia đình mình...

          - Có gì mà ân với nghĩa con - Ba Bích Hạnh đưa chiếc khăn cho Ngọc Thanh lau nước mắt, rồi nói: - Chỉ là một chút quà nhỏ trong bao la tình cảm của đạo lý " Lá rách ít đùm lá rách nhiều" của cả nước, no đói có nhau thôi mà. Không có những người đã hy sinh xương máu cho hoà bình, độc lập tự do như ông nội của con, thì chắc gì cô chú có được cuộc sông sung túc như hôm nay. Chú dự định một ngày gần đây sẽ đưa cả gia đình vào thăm gia đình ông Quảng Hà, rồi đi các hang động trong di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nghe nói đẹp lắm mà chưa đi được...

          - Hay quá!- Bích Hạnh reo lên: - Ba ngày nữa là bọn con nghĩ hè rồi, đi luôn ba hè!.

          - Dạ, cháu cũng xin mời cô chú vào và cho cháu vào luôn - Ngọc Thanh phấn khởi nói.

          - Hai anh chị có vẻ nôn nóng quá nhỉ - Ba Bích Hạnh nói: - Ừ, cả nhà chuẩn bị đi...

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

         

          Đúng bảy giờ cả nhà lên xe. Mặt trời đã lên cao, toả sáng. Nắng như tơ, từng sợi thả xuống óng ánh mặt Tây Hồ. Ba của Bích Hạnh nổ máy, cài số, nhấn ga. Chiếc xe từ từ chạy ra khỏi cổng nhà, rồi lao ra bon bon trên đường Thanh Niên, giữa tiếng loa phóng thanh đang ngân vang bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn " Có phải em là mùa thu Hà Nội - Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tim... Có phải em là mùa thu Hà Nội - Nghìn năm sau ta níu bóng quay về - Ôi, mùa thu của ước mơ...". Đối với Ngọc Thanh thì đúng là " Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ". Dọc đường, cậu say sưa giới thiệu về quê hương mình - một vương quốc hang động,với bao đệ nhất kỳ quan, như các động Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường, Sơn Đoòng, Tú Làn... có nhiều điểm được đánh giá là nhất thế giới, có dãy núi Lệ Đệ đẹp chẳng kém thua Đà Lạt; có các bãi tắm Đá Nhảy, Nhật Lệ tuyệt vời; có suối nước nóng trên 1050C, vừa tắm nước, tắm hơi, vừa chơi, vừa nhúng tái thịt nhậu trên các lỗ nước phun dân dã thoả mái...Ngọc Thanh nói liên hoàn như một hướng dẫn viên du lịch. Mọi người trên xe ai cũng chăm chú lắng nghe quên cả mệt mỏi.

          Chưa đầy bốn giờ chiều đã đến nhà Ngọc Thanh. Ba của Bích Hạnh phanh xe, về số, tắt máy. Ông chưa vội vào nhà, mà say mê ngắm nhìn khu vườn như một rừng cao su xanh mượt sắp đến tuổi thu hoạch, bên hồ nước trong xanh, bao quanh là ngàn thông toả bóng trên mặt nước trong xanh. Là một doanh nhân giỏi, ông hiểu rất rỏ cái đẹp và giá trị của vùng đất này. Ông giơ tay vừa chỉ, vừa phân tích và nói:

          - Đẹp lắm!, chẳng bao lâu sẽ trở thành giàu...

          Từ trong căn nhà xây lợp ngói hai gian, ba và mẹ của Ngọc Thanh vội vả chạy ra. Ngọc Thanh giới thiệu:

          - Thưa ba mẹ, đây là bà nội và ba mẹ của Bích Hạnh, còn đây là Bích Hạnh và em trai là Duy Nghĩa mà con đã từng kể. Cả gia đình Bích Hạnh là ân nhân của gia đình ta.- Ngọc Thanh đưa tay về phía ba của Bích Hạnh nói tiếp: - Ba và mẹ có nhớ ra được người này không?...

          Không cần phải nhìn lâu, ông Nguyễn Quảng Hà ôm chặt lấy ba của Bích Hạnh vừa khóc vừa nói:

          - Anh Ngọc Hồng!. Cả gia đình này ai mà dám quên anh được. Mỗi lần nằm xuống nghỉ ngơi thoả mái là nhớ đến anh. Mỗi mùa mưa to gió rét về được sống trong căn nhà ấm cúng này là nhớ đến anh. Cái hình ảnh thân thiện anh đưa tiền và đặt đá xây nhà cách đây đã gần hai năm rồi mà cứ luôn hiện lên trước mắt tôi. Công ơn của anh chịchúng tôi ghi nhớ suốt đời...

          Từ trong bếp, mẹ của Ngọc Thanh chạy ra nói với giọng hờn dỗi:

          - Ông định không cho gia đình anh chị Ngọc Hồng và con vào nhà, sao cứ chặn đường, nói huyên thuyên ngoài cổng vây?!.

          - Ờ, ờ, mời bà, mời anh chị và cả nhà vào - Ba của Ngọc Thanh đưa hai bàn tay xoa xoa với nhau mời.

          Cuộc hội ngộ được tổ chức trên một tấm chiếu nhựa, trải dài và rộng giữa sân xi măng thoáng mát, dưới ánh nắng hồng của hoàng hôn, có cả nhạc rừng vi vu, du dương của thông và cây cao su. Mọi người quây quần, uống nước chè xanh, trò chuyện vui vẻ. Bà nội Bích Hạnh vừa đưa ly nước lên miệng, thì ông nội của Ngọc Thanh chân đi khập khễnh bước ra. Hình như ở ông toát ra một điều gì đó rất dặc biệt, làm cho bà bần thần, bối rối. Từ trên tay bà, chiếc ly rơi xuống. Nước đổ lênh láng. Bà đứng dậy bước đến trước mặt ông, đưa hai bàn tay nắm vai ông, nhìn ông một lúc, rồi hét toáng lên:

          - Anh Linh!. Có đúng thật là anh Nguyễn Hồng Linh đây không?.

          - Hồng Minh!. Mai Hồng Minh của anh vẫn còn đây hả?!. - Ông nội của Ngọc Thanh cũng đã nhận ra bà nội Bích Hạnh.

          Hai người ôm chặt lấy nhau, khóc nức nở, trước sự ngạc nhiên của con cháu...

 

                                                          *

 

                                                *                 *

         

           Bữa tiệc tuy dân dã với cá hồ, gà nuôi và rau quả trong vườn, nhưng kéo dài suôt cả đêm. Trời rất trong. Trăng như thấu hiểu lòng người, toả sáng hơn mọi hôm. Gió Nam lồng lộng mang cả hơi nước hồ Lục Trâm lên mát rượi. Đợi hai ông bà dịu bớt nỗi xúc động, ba của Bích Hạnh mới dám lại gần hỏi nhỏ:

          - Hai ông bà đã từng quen nhau rồi à?.

          Lấy khăn lau nước mắt, ông nội của Ngọc Thanh nói:

          - Không chỉ giới hạn ở sự quen biết và thân nhau đâu các con và các cháu ạ!. Tội lỗi lắm, đau lắm và mừng lắm...

          - Nghĩa là thế nào mà các cháu không hiểu - Ngọc Thanh nói.

          - Nghĩa là thế nay - Bà ngoại của Bích Hạnh nói: - Ông kể cho con cháu nghe đi...

          Câu chuyện bí mật được chôn chặt trong lòng của ông bà suốt 40 năm qua được bắt đầu từ những năm bảy mươi, của thế kỷ trước được ông bật mí.

          Hồi ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Ở miền Bắc, giặc Mỹ leo thang ra bắn phá mang tính huỷ diệt. Ở miền Nam, Mỹ - nguỵ liên tục thực hiện các chiến dịch " tìm và diệt". Ông Nguyễn Ngọc Linh đang học Đại học sư phạm ở Hà Nội tình nguyện xếp bút, lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện, ông được lệnh vào chiến trường Quảng Trị chiến đấu, rồi chuyển sang lực lượng trinh sát vũ trang, thuộc Ban an ninh của hai thị xã Quảng Trị và Đông Hà ghép lại là Quảng Hà. Ông được phân công hoạt động trong địa bàn thành cổ Quảng Trị, cùng tổ công tác với bà Mai Thị Hồng Minh, có nhà ở ven vùng thành cổ.

          - Lúc đó bà nội của các cháu đẹp lắm!- Ông Ngọc Linh nhìn về phía Bích Hạnh nói: - Không cần chưng diện mốt này mốt nọ, bởi có đủ áo quần mà mặc đâu, nhưng nhìn bà cứ như nhìn tiên trên trời sa xuống, lại nhanh nhẹn, hoạt bát, như một người có phép tàng hình, ra vào thành cổ như trò chơi trốn tìm trước mắt địch...

          - Cái ông này, già rồi còn tán tỉnh, nịnh bợ - Bà Hồng Minh vỗ nhẹ vào vai ông cười và nói: - Ông nội của các cháu trước đây cũng đẹp trai và lém lỉnh lắm. Ông là một trong những chiến sĩ trinh sát giỏi nhất ở Quảng Trị. Có năm ông ba lần ôm trọn danh hiệu " Dũng sĩ diệt Mỹ"...

          - Tôi mà không tài giỏi, không lém lỉnh và không biết tán tỉnh, thì sao mà chiếm được trái tim của bà...

          Bỗng cổ họng của ông nghẹ lại. Nét mặt của ông chuyển về trạng thái rất buồn. Bà Hồng Minh lại nắm hai bờ vai của ông lay nhẹ.

          - Thôi, chuyện cũ lâu rồi, cho qua đi - Bà nén hết nỗi đau trong lòng giả vờ vui vẻ nói với ông: - Gặp nhau vui thế mà ông khóc thì ai còn ngồi được. Ông không kể thì tôi kể cho con cháu nghe này. Không được, đó là việc của ông. Ông có năng khiếu và trí nhớ hơn...

          Thế là ông cố gắng bình tâm rồi kể: hai người yêu nhau thắm thiết lắm. Hoạt động trong lòng địch đầy hiểm nguy, sống chết cận kề, vậy mà ngày nào họ cũng cố gắng gặp nhau được một lần. Nhiều đêm hai người đã ôm nhau ngủ dưới một căn hầm bí mật. Rất tình cảm, gắn chặt bên nhau, họ vẫn thề với nhau đất nước thống nhất mới sinh hoạt vợ chồng. Nhưng, chiến tranh đã làm đảo lộn tất cả. Một hôm - cái hôm trong những ngày trinh sát chuẩn bị đánh vào thành cổ Quảng Trị, biết rằng sắp bước vào một trận quyết chiến với địch rất quyết liệt, hai người đã trao cho nhau cái cao quý nhất trong đời người. Họ quấn chặt lấy nhau, như không muốn để mất đi một người nào. Sáng dậy, theo sự phân công trước, mỗi người dẫn một cánh quân của ta tiến công vào thành cổ. Cuộc chiến diễn ra ngày càng ác liệt. Khoảng thời gian gặp nhau của hai người cứ kéo dài ra trong tiếng đạn bom, trong những trận đối đầu nguy hiểm. Đến khi tỉnh lại, thì cuộc chiến suốt 81 ngày đêm tại thành cổ đã kết thúc với thắng lợi to lớn thuộc về quân giải phóng và ông mới được đồng đội cho biết bà Hồng Minh đã bị thương ngay từ trận đầu và đã được đưa ra miền Bắc cứu chữa. Còn ông đã bị mất một cổ chân và một mảnh đạn cối găm vào mắt trái trong ngày cuối cùng. Một đơn vị bộ đội khẩn trương đưa ông về tuyến sau, rồi ra Hà Nội điều trị. Khi các vết thương đã lành hẳn và được lắp vào cái cổ chân giả đi lại thành thạo, ông đã đi khắp các Quân y viện và trai thương binh tìm bà, nhưng càng đi chân càng nhức nhói vàằchngr có tin gì tốt lành. Ông đành về quê, định dưỡng sức một thời gian rồi tiếp tục đi tìm bà thì có một người con gái đem lòng yêu thương. Cha mẹ và bà con thân thích, cũng như bạn bè trong làng luôn thúc dục ông cưới. Ông buộc phải làm theo sức ép của mọi người, rồi xin ra ở riêng và dựng một căn nhà tranh, vách đất trên vùng đất này. Tưởng rằng đã yên ổn, thì bất hạnh lại ập đến. Vợ ông sinh ra Nguyễn Quảng Hà chưa đầy một năm thì đột ngột qua đời, để lại cho ông cảnh gà trống nuôi con đầy gian nan, vất vã...

          - Còn bà thì sao? - Ba của Bích Hạnh nhìn mẹ đang ngồi lau nước mắt hỏi.

          - Còn mẹ thì...- Bà Hồng Minh vừa khóc vừa kể: - Sau khi bị thương, thì mẹ được chuyển ra bệnh viện Bạch Mai. Biết mẹ bị thương nặng lại đang mang thai, các bác sĩ đã hết sức tận tình cứu chữa và kéo dài thời gian điều trị, để cho mẹ sinh ra Ngọc Hồng được hai tháng mới cho xuất viện. Bấy giờ, người miền Nam được Nhà nước và đồng bào miền Bắc ưu tiên đủ thứ. Ban thống nhất Trung ương và Bộ Công an còn cấp cho mẹ một căn phòng để ở nuôi con. Mẹ và Ngọc Hồng còn được hưởng phụ cấp chế độ thương binh nặng, được cấp sổ mua gạo, phiếu mua vải, mua thực phẩm đầy đủ...

          - Sao mẹ không đi tìm ba? - Ngọc Hồng hỏi tiếp.

          - Mẹ cũng muốn đi tìm và muốn gặp lại nhau lắm, nhưng...- Bà vừa nói vừa láy túi xách, rút ra một mẩu báo đã bị hoen ố đưa cho ông Ngọc Linh, rồi khóc oà lên.

          Mọi người xúm lại bên ông Ngọc Linh và bà đọc, thì đó là một bài báo tường thuật tỉ mỉ về sự chiến đấu dũng cảm của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Linh, trinh sát vũ trang Quảng Hà trong cuộc tấn công vào thành cổ Quảng Trị...

          - Sao họ lại đưa tin thiếu chính xác vậy ba? - Ngọc Hồng bắt đầu gọi ông Ngọc Linh bằng ba.

          - Ở chiến trường ác liệt những chuyện như vậy là bình thường thôi con ạ!- Ông giải thích: - Có lẽ sau trận chiến đấu cuối cùng ấy, các phóng viên chiến trường được nghe một số người cùng chiến đấu gần ba kể lại, thêm vào đó là họ đã chuyển bà về tuyến sau quá nhanh, không thấy ba về nữa là Ban an ninh thị xã Quảng Hà tưởng là ba đã hy sinh rồi. Mẹ của các con cũng tưởng vậy nên không đi tìm nữa, mà ở vậy nuôi con. Cái tên của con là chữ lót của ba và mẹ đó. Chuyện đã qua 40 năm rồi ấy mà. Bây giờ được gặp lại nhau, ba và mẹ có con, có dâu, có cháu trưởng thành, sum vầy thế này là quý hoá lắm rồi!... Nào, cả nhà nâng ly chúc mừng hội ngộ đi!...

          Mọi người đều cầm ly bia lên cao, cụng vào nhau. Quảng Hà hô to:

          - Chúc ba mẹ vạn tuế!.

          - Vạn vạn tuế!.

           Mọi người cùng hô to, vang vọng trên nền nhạc của ngàn thông và rừng cao su, dưới ánh trăng sáng như ban ngày. Nhưng rồi, tất cả lại phải đặt ly xuống, khi Ngọc Hồng phát hiện còn thiếu Ngọc Thanh và Bích Hạnh.

          Duy Nghĩa nhanh chân chạy đi tìm, thì bắt gặp hai anh chị đang ôm nhau khóc nức nở bên bờ hồ Lục Trâm...

 

                                                          Nha Trang, Tháng 10 năm 2011

                                                                                     

 

          

 

 

 

 

Lên Tây Thiên

      

                                                            

                                                           

          Qua lễ Vu Lan, chưa đến sáu giờ sáng, tôi đã phải theo một thượng úy công an là con gái đầu lòng lên xe máy, vượt mưa gió vào trụ sở Hội, để làm công việc đầu tiên của trưởng trại là bốc vác mọi thứ cần thiết, phục vụ cho anh chị em đi trại viết lên xe, chờ và điện thúc trại viên của mình đến. Sau ba lần đưa người dự phòng vào danh sách, thay cho những người bận việc không đi được, trước lúc lên xe còn phải bổ sung thêm nhà văn Đinh Duy Tư thay cho nhà thơ Trịnh Xuân Bái xin rút. Chủ tịch Hội Nguyễn Bình An, Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Lê Na và nhà thơ Lý Hoài Xuân ủy viên thường vụ Hội đều đến sớm để tiễn chúng tôi. Mấy hôm trước trời Đồng Hới nắng dịu và mát mẽ, bỗng đổ mưa. Mưa xối xả. Mưa trắng cả trời đất. Mấy văn nghệ sĩ Quảng Bình đi dự trại sáng tác xa theo chúng tôi chỉ là chuyện thường niên, vậy mà  trời cũng buồn. Ngay như nhà văn Hoàng Thái Sơn tuổi đã cao, toàn thân như không còn phần thịt, cũng đến sớm để cùng đi. Nhìn anh, tôi thương lắm.

          - Bác đi được là em mừng lắm! - Tôi nói: - Hôm bàn danh sách, cả Ban thường vụ Hội cứ lo cho bác.

          - Phải đi để mà sáng tác chứ, sức khỏe của mình vẫn bình thường cơ mà - Nhà văn Hoàng Thái Sơn nói.

          Hoàng Thái Sơn mà đã hăng hái như vậy, thì tất cả chúng tôi chẳng ai ngần ngại gì cả. Thế là 12 người lên xe, dưới sự điều khiển của tài xế Lệ, rẽ mưa xuất hành. Ra đến Lộc Đại, mọi người yêu cầu trưởng trại cho vào quán vú bò, dạ con ăn sáng. Tất nhiên là trưởng trại đồng ý, nhưng đồng ý trong tâm trạng lo theo túi tiền. Tiền được mang đi từ cái " Hội tinh thần" trên mảnh đất " Ô Châu" này quá ít. Trước lúc ra đi, chị kế toán của Hội đã ghi rõ ràng trên giấy, cho trưởng trại mang đi là tiền ăn dọc đường mỗi người chỉ có  bảy mươi ngàn đồng, lại còn dặn đi dặn lại: " Anh cố gắng chi cho vừa!". Bảy mươi ngàn đồng để ăn uống trên suốt chặng đường trên 600 cây số, giữa thời buổi giá cả cao vòi vọi, đã là một thử thách rồi, lại còn chơi sang, ăn cho được món ăn sáng đắt tiền nhất!. Lại có nhà thơ Trương Thị Cúc đi trại chuyến này để hoàn chỉnh bản thảo tiểu thuyết sợ nôn, không ăn cháo được, phải uống sữa và nước ngọt, giá còn cao hơn nhiều so với tô cháo vú sữa và dạ con. Thôi thì đành bấm bụng, cười nói và phục vụ cho mọi người ngon miệng để tiếp tục đi... " Tao Đảm"!. Đến thị trấn Hoàn Lão có thêm hai nhà thơ Hồng Thế và Hữu Phi lên xe. Ra đến ngã tư Ba Đồn, xe dừng lại để đón Hoàng Đình Giót. Trong lúc trưởng trại cố mở hết cổ họng và âm thanh vừa gọi, vừa đi các quán tìm Giót, thì nhà văn Hoàng Thái Sơn kêu đau đầu và xin tạm biệt đoàn. Hoàng Thái Sơn xuống xe. Tìm mãi, đợi hoài vẫn không thấy bóng dáng Hoàng Đình Giót. Trưởng trại lại phải điện vào Chủ tịch Hội. Từ đầu máy bên kia, Nguyễn Bình An báo lại:

          - Hoàng Đình Giót không đi chuyến này được, đã báo với nhà điêu khắc Phan Đình Tiến, Phó Chủ tịch thường trực của Hội chiều qua rồi.

          - Sao không thay người cho đủ? - Trưởng trại chất vấn: - Ô dự phòng của mình còn Trần Hải Sâm nữa mà!

          - Bây giờ Phan Đình Tiến nói mới biết, thôi thì anh cứ điện cho Trần Hải Sâm và Cảnh Giang, nếu đi được thì đón xe lên Tam Đảo dự trại, về Hội thanh toán lại tiền tàu xe.

          Thế là trưởng trại lại có dịp chi tiền điện thoại, để tiếp tục phát đi những cú điện " chiêu hiền, đãi sĩ"! Cuối cùng chỉ nhận được một tin nhắn của nhà thơ Trần Hải Sâm: " Chúc đoàn thượng lộ bình an, gặt hái được nhiều kết quả trong chuyến đi".

          Chưa qua khỏi " Đang Nghèo" ( Đèo Ngang ), mà đã gặp bao trắc trở.

Gần đến Kỳ Anh của Hà Tĩnh, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh Lê Đình Ty, lại phát hiện mình bị mất điện thoại. Nghi là do " cầm nhầm" rồi lắc lắc ở nơi dừng xe để đi tiểu tiện, nên lại phải quay lui xe hơn hai cây số, rồi lại kéo nhau xuống tìm kiếm. Nhà thơ Thái Hải thương bạn đã quên cả xỏ giày chạy ào xuống, lần trên bờ ruộng để tìm, nhưng chẳng thấy đâu. Hóa ra, không phải do Lê Đình Ty " cầm nhầm" để rơi ở chỗ tiểu tiện, mà rơi trên xe tại chỗ  Thu Cúc. Không khí nghệ sĩ bắt đầu bùng lên trong xe. Hết chuyện cái điện thoại lẫn với cái  “của cấm" của Lê Đình Ty ngồi cạnh Thu Cúc, lại chuyện " mấy o gánh cá bên cồn... gánh cả "cái ồn"... của quá cố Nguyễn Xuân Chàm, nguyên là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Hới. Phải nói, anh Chàm hồi ấy là một người lãnh đạo, nhưng rất yêu mến văn nghệ sĩ. Từ những năm tháng chúng tôi ở Huế đã gần gũi với anh nhiều. Gặp nhau là rượu với cái giọng khàn khàn: " ( Hè ). Nỏ mấy khi bay ra, Đồng Hới mình chỉ có đặc sản ( hè ) là cá, mực, tôm, cua, ( hè) cho mấy chai nữa cháu". Gặp nhau là thơ. Anh toàn xuất khẩu ra những bài thơ tếu, rất vui. Đọc và uống lai  rai cả buổi không say. Nhà thơ Đỗ Quí Dũng liên tục xách cái can năm lít của mình lên châm tửu, vừa chuyển câu thơ của anh Chàm thành làn điệu hò khoan Lệ Thủy. Ngoài cái tính hiền lành, ít nói và sâu lắng của nhà thơ Hồng Thế, nhà nghiên cứu văn hóa - văn nghệ dân gian Hữu Phi và họa sĩ nổi tiếng tranh bẹ chuối Văn Đắc giữ thế đứng đắn của người cao tuổi, nhà thơ Thái Hải và Lê Anh Phong ngoan đột xuất vòng tay ngồi yên, tất cả đều xướng và hát hò vang rộn cả xe. Người vui nhất là nhà thơ Giang Biên. Có lẽ từ ngày về hưu đến nay chưa lúc nào anh được vui như vậy. Anh hát khản cả cổ. Vừa hát, vừa uống. Cái can rượu năm lít cứ cạn dần. Lời hát, lời nói thì tăng tốc bốc lên, rồi chuyển dần sang thể loại " ngôn chiến". Sôi nổi nhất vẫn là nhà thơ Giang Biên và chàng mỹ thuật Dương Đức Liên. Lúc đầu cứ tưởng là họ "nói yêu" với nhau. Trưởng trại thì cứ ngồi yên, giả ngủ, lắng nghe từng chi tiết và chỉ nhẹ nhàng lên tiếng khi âm thanh của các chàng bị "nàng men" điều khiển quá to. Rượu vào thì lời ra đó là lẽ thường tình. Trưởng trại  từng và đang là " đại trưởng cự" trong khối nhâm nhi quá hiểu điều đó. Được cái là sau lời nói nhẹ nhàng đầy thuyết phục ấy, tất cả đều nghe và trưởng trại lại được thêm mấy lời khen là " quá hiền và bình tĩnh". Bắt đầu từ Hà Tĩnh, cả Giang Biên và Dương Đức Liên bắt đầu chìm vào giấc ngủ, đến giờ Ngọ, mới được đánh thức xuống cơm trưa ở một quán ăn tại Diễn Châu ( Nghệ An ). Mọi người đều xuống xe vào nhà vệ sinh, còn trưởng đoàn lại phải gặp chủ quán.

          - Ở đây một phần cơm bao nhiêu? - Trưởng đoàn hỏi.

          - Thấp nhất là năm chục ngàn - Cô chủ quán trả lời.

          Thần sắc của trưởng đoàn bắt đầu rân rân. Theo tính toán thì khẩu phần của mỗi người chỉ còn không đầy năm mươi lăm ngàn cho hai bữa.  "Làm anh khó quá"!. Trư­ởng trại lại phải vắt óc tính toán chi ly từng món, như­ng vẫn vư­ợt xa tiêu chuẩn. Nh­ưng rồi tất cả đều được xếp thành hai mâm. Vậy là giải quyết xong bữa tr­ưa, lại còn mua cả nước bò húc cho tài xế Lệ nữa. Anh chị em trong đoàn đều khen là ăn no và ngon!. Còn trưởng trại - một đại tá công an nhân dân, từng đi đây, đi đó nhiều nơi, ăn uống nhiều chỗ, mà thấy cái giá như vậy, " quả là điều tôi chưa từng thấy bao giờ", nên đành phải kể lể chi tiết lại như vậy. Và, có lẽ cũng phải biết như vậy, mới thấy được cái giá trị của con người được sống trên đất Quảng Bình. Ngay như nhà thơ Thu Huề và Thu Cúc cũng khẳng định: " Bốn năm người trong nhà em, đi chợ chỉ chưa đầy tám chục ngàn mà ăn cả ngày, vẫn có cá tươi loại ngon, có rau, có canh chua... đủ thứ". Nói về ăn uống thì quê ta quá tuyệt vời. Ra chợ thích mua thứ gì có thứ đó. Cá biển loại đặc sản đang bơi trong chậu, mực nháy, cua, ghẹ, tôm, cá đồng, cá sông còn nhảy đành đạch trên rổ... giá rẻ ai cũng đổ xô mua, rau tươi sạch mỗi bó chưa đến hai ngàn luộc lên đủ bốn người ăn. Còn canh thì chỉ cần mua một cái đầu cá hồi ở siêu thị Hiếu Hằng với hai ngàn dưa chua, nấu một nồi cả đoàn ăn không hết. Khách du lịch vào Quảng Bình không chỉ được đến với Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, với Đá Nhảy, Nguồn suối nước khoáng Bang với độ sôi 105o C và thỏa thích tắm biển... mà còn sướng với đi chợ mua nhiều đặc sản với giá rẻ hiếm thấy...

          Đành phải chấp nhận như vậy và đoàn tiếp tục hành trình.

          Đến Thủ đô gặp vào lúc tan tầm. Người xe trên đường như đông đặc. Mặc dù đã điện hỏi thăm nhiều bạn bè đường lên Tam Đảo, nhưng mỗi người hướng dẫn mỗi cách, kiểu " lắm thầy nhiều ma", làm cho trưởng trại, lái xe và mọi người bối rối, giữa trận đồ bát quái. Hơn ba tiếng đồng hồ mà cả đoàn vẫn như gà mắc tóc giữa đường Trường Chinh, lại còn bị công an phạt vì đã để bánh xe vượt qua vạch đèn đỏ. Tội nghiệp cho thằng cu Lệ non trẻ, chưa am hiểu đường sá, mà cái Công ty du lịch tỉnh cũng ký hợp đồng và phân ào nó đi, làm cho chúng tôi ngồi trên xe như " gửi trứng cho ác". Còn nó thì lo sợ, không còn đủ bình tĩnh và tự tin lái xe giữa lòng Thủ đô. Trong lúc chờ đèn đỏ, bỗng có một người đàn ông chạy đến nhảy lên xe. Người ấy là bạn chiến đấu thân thiết của Văn Đắc từ hồi chiến tranh trên bến phà Long Đại, đã được Văn Đắc điện cầu cứu. Lúc ấy đã hơn 21 giờ. Đối với đoàn lúc ấy người đàn ông ấy như là ông tiên.

          - Các bác cứ yên tâm. Có em dẫn đường là khỏi lo rồi - Ông " tiên" nói: - Nhưng mà bây giờ mời các bác vào nhà em uống nước đã...

          Trời đã khuya, mà đường đến Tam Đảo còn hơn tám mươi cây số. Nhiều anh chị em từ chối lời mời, nhưng trưởng trại thì không thể từ chối trước " tiên sinh " được, bởi không có ông lúc ấy, thì chưa biết đến mấy giờ mới ra khỏi Hà Nội. Ông chỉ dẫn cho chúng tôi vào nhà. Vợ ông cũng là chiến sĩ năm xưa. Cả hai vợ chồng quí mến khách lắm. Ông liền vào tủ lạnh lấy bia ra mở. Bà chuẩn bị đồ mồi và dưa. Ông và Văn Đắc say sưa kể lại những kỷ niệm xưa trên vùng Long Đại đầy kỳ tích huyền thoại. Cánh viết văn xuôi thích lắm, ước chừng có vài ngày nghe họ kể, để xây dựng tác phẩm, nhưng nói như mấy người dẫn chương trình thường nói là " thời lượng có hạn", nên chúng tôi đành lưu luyến tạm biệt bà. Còn ông lấy xe máy, đội mũ bảo hiểm vào, rú ga, tiếp tục dẫn đường cho chúng tôi ra gần đến chân cầu Thăng Long. Xin ngàn vạn lần cảm ơn lòng tốt của ông, và nhờ ông, đoàn chúng tôi mới đến được Nhà sáng tác Tam Đảo lúc 23 giờ. Trong lúc chờ ăn cơm tối, nghĩ lại chặng đường đã đi qua, ai cũng rợn người. Ngày xưa đi xe đạp, vượt qua được Ba Dốc đã thấy mừng, ngồi trên xe ô tô vượt qua Đèo Ngang, đèo Hải Vân, Cù Mông thấy nhẹ cả người. Khi lên đến Điện Biên, tôi cứ nghĩ sẽ không bao giờ sợ vượt qua một con đèo nào khác. Vậy mà bây giờ lên Tam Đảo lại càng khiếp hơn. Đường hình sin như rắn bò, len lỏi qua khe suối, vực thẳm và rừng núi, lên tận đỉnh cao hơn 1.400 mét so với mặt biển. Tiếng xe đi số một nghe rì rì. Đôi tai ù ù. Gió quất, thông, bách và cây rừng vi vu. Nhiều người muốn quan sát phong cảnh Tam Đảo dưới đêm trăng, nhưng sợ, phải nhắm mắt lại không dám nhìn xuống. Thế là sau hơn 16 tiếng đồng hồ, đoàn chúng tôi đã lên đến gần đỉnh của Tam Đảo. Giám đốc Nhà sáng tác Lương Cao Bằng còn bận về Hà Nội công tác, nên lễ khai mạc trại phải lùi lại một ngày. Cả đoàn được nghỉ ngơi ngày thứ bảy.

          Tưởng là ai cũng dưỡng sức sau một ngày hành trình vất vả, nhưng rồi tất cả đều chớp thời cơ đi thực tế. Càng đi càng thấy Tam Đảo đẹp tuyệt vời. Gọi là Tam Đảo bởi ở đây có ba ngọn núi là Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Thị vút lên cao giữa mây trời, ngàn năm sương phủ, như bồng bềnh trên mây, không khác cõi thần tiên thơ mộng. Ba ngọn núi nhô cao trên dưới một ngàn năm trăm mét so với mặt biển giữa lưng chừng trời, nối nhau kéo dài hơn năm mươi cây số. Núi Thiên Thị cao 1.378mét. Đỉnh núi lô nhô, dày đặc như muôn ngàn  " người nhà trời" đang họp chợ, nên có tên là Thiên Thị. Đền Tây Thiên ở Thiên Thị - nơi thờ tự Quốc Mẫu Thái phu nhân, vợ của Hùng Triệu Vương, mẹ của Hùng Nghị Vương và đền thờ của đức Thánh Thần Trần Hưng Đạo. Vào ngày 14 và rằm tháng hai âm lịch hàng năm, hàng ngàn người dân trong vùng và các địa phương trong tỉnh, cùng hàng vạn khách thập phương đến tham quan, nô nức kéo đến tham dự lễ hội truyền thống " lễ hội văn hóa Tây Thiên", mang ý nghĩa về với cội nguồn dân tộc thiêng liêng. Với tấm lòng thành kính của mình, mọi người đều dâng hương, dâng lễ vật lên Quốc Mẫu, cầu nguyện Quốc thái dân an. Từ đấy đền Quốc Mẫu được xưng là linh dị, hương hỏa đời đời bất tuyệt, miếu trang nghiêm. Núi Thạch Bàn cao 1.388 mét. Ở trên đỉnh núi có một phiến đá rất to và bằng phẳng, giống như cái bàn. Núi Phù Nghĩa, bên phải núi Thạch Bàn cao 1.400 mét. Tương truyền đây là nơi các vua Hùng thường cử quan đến cầu ( nguyện) giúp việc nghĩa cho giang sơn, nên tên núi là Phù Nghĩa. Cùng tại núi này, vợ chồng Lang Liêu đã đến lấy lá dong gói bánh chưng dâng vua Hùng. Ở trên độ cao chọc cả trời mây ấy,  những ngày ít sương mù mới thấy trời mây xuất hiện. Mây bảng lảng vãn du khắp chốn, có khi luồn vào hang núi, có khi len lõi vào chào hỏi từng nhà. Có lúc mây sà xuống ôm rừng thông xanh biếc, nghiêng mình nghe khúc nhạc đại ngàn và sông suối. Dưới núi có suối Giải Oan. Một ngọn ở giữa gọi là núi Kim Thiên cao thẳng, từ trên đỉnh tỏa ra nhiều dòng suối như những dãi lụa trắng vắt từ trên núi xuống, bốn mùa róc rách như dạo nhạc trên trời. Trên sườn núi có chùa Tây Thiên, trúc tre ken dày đặc giữa ngàn thông xanh, làm cho cảnh trí thanh nhã, thênh thang. Theo anh bạn là Giám đốc Đài truyền thanh truyền hình huyện Tam Đảo, thì trên núi lại có ngôi chùa Đồng cổ kính, lên xuống chùa phải mất hai ngày. Leo lên đỉnh núi thì có hồ Sen, nước một màu xanh biếc, có nhiều loại đá lạ rất đẹp. Sen đỏ nở hoa bốn mùa. Từ hồ tỏa ra nhiều dòng suối chảy xuống. Bên tả gọi là suối Bạc. Ngọn suối từ khe đá trên đỉnh núi cao hàng chục mét chảy xuống như một dãi bạc óng ánh, hợp lưu với suối Vàng, rồi xuôi về suối Giải Oan. Ngược suối Giải Oan, qua  suối Trường Sinh, núi Rùng Rình, theo lời chỉ dẫn của Lê Quí Đôn từ thế kỷ XVII ta sẽ gặp một bức thành bằng đá sừng sững, có bia khắc chữ lớn: " La Thành bất loạn", có lẽ ý nói dãy núi Tam Đảo này trùng trùng, điệp điệp như nhiều bức thành la liệt bày ra, mà vẫn mạch lạc, rành rõ, không rối loạn. Nói về cái đẹp, vẻ huyền bí, linh thiêng, mang đầy kỳ tích huyền thoại trong lịch sử, có lẽ khó mà nói hết được. Xin dẫn ra đây bài thơ Tây Thiên vọng cảnh của ông Lê Kim Hạt là một người dân bình thường ở nơi kỳ vĩ này, nhưng được chọn lồng khung kính cỡ to và treo trang trọng tại Đền Trình:

 

                   Tây Thiên tự cổ danh lam thắng

                   Nguồn mạch tâm linh chảy vĩnh hằng

                   Thạch Bàn vời vợi mây đề trắng

                   Trường Sinh thăm thẳm nước lưu xanh

                   Bát vị Kim Cương tiên vãn cảnh

                   Đa thần chín cội vọng thiên thanh

                   Thác Bạc đổ trời tràn lũng vắng

                   Ngàn tuổi thông cười ngạo nghễ trăng

          Chỉ mấy câu thơ mà đã khái quát được tầm vóc và vị thế thắng cảnh Tây Thiên, lôi cuốn chúng ta đi mãi vẫn không hết ngạc nhiên, bởi vẻ đẹp kỳ vĩ đến mê hồn của sự hài hòa giữa con người và tạo hóa. Theo Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, khoảng năm Kỷ Tỵ, Canh Ngọ thời nhà Lê, Hoàng đế Nhân Tông, đảo khắp bách thần không thấy mưa. Đất đai khô hạn, mới bàn trong triều đình rằng:  "Núi Tam Đảo là danh sơn, mà việc phụng sự thì thiếu ở trong tự điển, bây giờ nên đem lễ đến tế để cầu thần giúp". Vua khiến văn thần thảo sắc, phong sắc Thanh Sơn đại vương, đem lễ đến tế cầu mưa. Ngày ấy, mây ùn ùn kéo đến, bốn bề tối đen, sáng ngày mưa to như xối, năm lại được mùa. Từ đó về sau, hễ gặp đại hạn, hay mưa dầm, đến cầu đảo đều có linh ứng. Lại có chuyện về ông Trần Nguyên Hãn, là con cháu của Hưng Đạo đại vương, nhà ở phương Đông trên núi đá, lúc hàn vi lấy nghề bán dầu làm nghề sinh nhai. Hôm ấy, đi đến đền thì trời tối đen, sợ không dám đi, ông mới ngủ nhờ ở đền một đêm. Đêm khuya chưa ngủ, nghe ngoài đền có tiếng gọi và bảo rằng:

          - Nay Thiên đình có chỉ triệu các thần, phu nhân ra đi lên chầu.

          Nghe trong đền trả lời rằng:

          - Có khách ngủ lại, đi xa không tiện, thôi các thần hãy đi đi, có việc gì thì nói lại cho biết.

          Ông lấy làm lạ, cứ trằn trọc canh chày không hề ngủ được, chừng đến canh tư thì nghe tiếng gọi lại, hỏi rằng:

          - Phu nhân đã dậy chưa?

          Thấy trong đền có người đi ra nói rằng:

          - Bữa nay Thiên đình họp có hai việc: Việc thứ nhất là bầu cử Lê Lợi ở Lam Sơn lên làm An Nam quốc vương. Nguyễn Trãi ở Nhị Khê làm phụ tá. Việc thứ hai là dưới đường Sơn Nam có một làng giết trâu tế thần cầu mưa. Cái dao của tên đồ tể bị phân trâu lấp mất. Tìm mãi không có, nó ngạo mạn nói rằng: " Không lẽ có thần linh nào lại đến đây ăn cắp dao của tao!". Bây giờ định phạt làng ấy ba năm đại hạn cho biết.

          Ông nghe rõ đầu đuôi câu chuyện như vậy, sáng ngày xuống dưới đường Sơn Nam, tìm đến làng ấy, đến đống phân chỗ giết trâu, bới lấy được con dao. Thấy đồng lúa của làng khô nứt nẻ, ông xách con dao trình với ấp trưởng và nói rõ sự tình đầu đuôi câu chuyện. Cả dân ấp sợ, soạn lễ đến đền tạ ơn, rồi dần dần cũng được mưa.

          Ông thấy việc ấy có linh nghiệm, tất nhiên việc khác cũng sẽ đúng, mới tìm qua núi Lam Sơn, vào Sơn động gặp Lê Lợi, nguyện làm tôi. Đến khi lê Lợi làm vua, ông có công lớn, phong Khai quốc công thần. Theo lịch sử chép lại thì ông đã từng đến quê tôi. Đó là vào năm 1425, t­ướng Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân của Lê lợi, đã mang 7 voi, 50 con ngựa vào chọn Rú Nguốn ( xã Cự Nẫm) là điểm hiểm yếu, phục kích. Bố trí lực lư­ợng xong, t­ướng Trần Nguyên Hãn giao cho Lê Nổ chỉ huy, còn ông dẫn quân ra chiến trư­ờng, giả thua chạy để dụ địch vào troòng. Quân Minh chiếm đóng tại đồn Hoàn Lão lên, tuy đông, nh­ưng bị phục kích đánh bất ngờ, nên bị tiêu diệt hơn một ngàn quân. Thừa thắng xông lên, đạo quân của Trần Nguyên Hãn tiến thẳng giải phóng Tân Bình, vào Thụân Hoá. Tại đây, vua Lê Lợi đã chọn lấy ngư­ời tinh nhuệ, chia cắt quân hiệu tiến quân ra Đông Đô, tiếp tục kháng chiến đánh đuổi quân Minh". Sau ông chết, được làm phúc thần ở Sơn động.

          Mỗi chúng tôi tuy chưa có điều kiện để đến với đền thờ Quốc Mẫu, Đền Thượng, Đền Cậu, Đền Cô, chưa được tắm nước Trường Sinh để người được đẹp thêm và sống được dài hơn, nhưng đã từng lên dâng hương khấn vái ở Đền Trình, Đền Thánh mẫu thượng ngàn, Tây Thiên, Thiền Viện Trúc Lâm... có lẽ ai cũng cầu nguyện, ngoài cái gọi là tai qua, nạn khỏi, vận hạn giải trừ, sức khỏe dồi dào, gặp nhiều may mắn và sáng tạo được nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật hay. Tưởng là cầu được ước thấy,vậy mà vẫn gặp bao chuyện không vui, nhiều lần phải giật mình. Sáng khai mạc, được tin nhà thơ Lý Hoài Xuân, làm " người anh hùng" đón xe vượt trên 600 cây số ra bổ sung quân. Ai cũng vui và cảm phục. Càng vui khi nghe tin nhà thơ Thái Hải trưa ấy lại có thêm con và bạn của con đang sống ở Hà Nội lên nữa. Xa quê, có người quê hương, chứ chưa nói là người thân ruột thịt đến, ai mà chả vui. Nhưng... niềm vui chưa được bằng gang. Mặc dù vui quá, trưởng trại hô thêm mười lăm chai bia, còn ông thường vụ Lý Hoài Xuân, mới được tăng cường cũng khoái hô chín chai, nhưng cha con và bạn của con Thái Hải vẫn phải mua cơm riêng và được dọn riêng một bàn khác. Vui cùng trại viên, hô hát cùng trại viên, nhưng nhìn mâm cơm chờ con đến của Thái Hải cái cổ của trưởng trại cứ nghẹn lại và đưa mấy chai sang đặt bên bàn đó. Quả là chưa có nhà sáng tác nào mà chặt chẽ và chi li như ở đây. Ở các nhà sáng tác khác như Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu, Đồ Sơn, Sầm Sơn... mà trưởng trại đã đi, chưa từng có như vậy. Bạn bè đến, đồng hương đến, có gì thì ăn chung với nhau, cần ngủ lại thì ngủ chung với nhau, cần thêm phòng thì các nhà sáng tác đó đều tạo thuận lợi. Vậy mà... ở đây lại còn cái giá một chai bia đến những hai mươi ngàn đồng, cao hơn cả ngoài cái quán cạnh nhà sáng tác năm ngàn đồng, còn so với Quảng Bình quê ta ơi thì gấp ba lần, không giật mình sao được!. Còn Lê Anh Phong, nghe cái danh nào là nhà báo, cán bộ biên tập phụ trách mảng văn nghệ của Đài phát thanh truyền hình Quảng Bình, nhà thơ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, Phân hội trưởng Phân hội sân khấu - ca múa và điện ảnh, đại diện báo Văn nghệ Trẻ tại miền Trung và đang đề xuất thành lập để làm chủ nhiệm Câu lạc bộ " Âm sắc quê hương", thì đã sống trong cảnh " cám treo, heo nhịn " hơn 6 tháng rồi. Chả là, vợ anh ta đã ra Hà Nội nuôi con sinh cháu gần 200 ngày, giờ có dịp ra, được trưởng trại cho về Hà Nội thăm cháu và thấy đây là dịp hiếm có nên đưa vợ theo đường của thầy trò Đường Tăng lên Tây Thiên chiêm ngưỡng cho biết trong đời, nhưng vừa đưa vợ về đến Trại, trại trưởng rơm rớm nước mắt báo rằng: " Cán bộ của Nhà sáng tác vừa đến cho biết Giám đốc từ Hà Nội điện lên nói là phải thuê phòng riêng và mua cơm riêng, không được ăn ở chung"!. Toàn thân anh ta hình như bốc lửa, nhưng rồi cũng nghe theo lời khuyên của trưởng trại mà kìm lại. Cái chữ  “nhưng" ấy sao mà cứ quyến luyến lạ thường!. Và, đột nhiên Đinh Duy Tư ngã ốm, đắp cả hai chăn vẫn cứ run và kêu nhức hai thái dương. Trưởng trại và anh chị em trong đoàn lo chạy thuốc, nấu nước xông, nhưng ngồi dậy được, ăn được bát cháo, là anh ta lại ngồi vào bàn viết tiểu thuyết, viết cả đêm như đang chạy nước rút, để rồi lại ốm nặng thêm. Thấy để anh ta lại lâu không ổn, trưởng trại lại họp đoàn và nhất trí của ít lòng nhiều góp tiền giúp đỡ và tìm cách đưa về quê. Nhà thơ Thu Cúc đứng dậy vừa khóc vừa nói:  "Nếu đưa Đinh Duy Tư về thì em xin về luôn để chăm sóc". Được cả đoàn tán thành, trưởng trại liền điện xin ý kiến của Chủ tịch Hội Nguyễn Bình An và gặp ngay Giám đốc nhà sáng tác liên hệ xe đưa Đinh Duy Tư và Thu Cúc về Ga Hà Nội mua vé tàu vào. Nghe tiếng " vâng" biểu thị sự nhất trí của Giám đốc, trưởng trại liền rút tiền túi của mình đưa cho Thu Cúc về mua vé tàu và ăn uống dọc đường. Tiễn Đinh Duy Tư và Thu Cúc đi được mấy tiếng, thì trưởng trại điện hỏi, được biết hai chị em đã mua được vé tàu nằm và bảy giờ tối tàu chạy. Mừng quá, trưởng trại liền thông báo cho cả đoàn. Ai cũng mừng. Nhưng... vừa ăn cơm xong, trưởng trại và Thái Hải vừa về đến phòng thì lái xe của nhà sáng tác đến báo và xin thanh toán 750.000 đồng tiền xăng!. Tiền chung thì chẳng có. Cả đoàn chỉ còn lại tiền ăn dọc đường đi về. Trưởng trại lại phải điện vào báo với Chủ tịch Hội. Từ bên kia, Chủ tịch Hội nói với giọng bối rối:

          - Biết làm sao được, trước mắt, anh cứ tìm nguồn trả cho họ, tôi sẽ hội ý thường trực rồi thanh toán lại sau - Ông lại thốt lên: - Chuyến đi này của anh sao mà vất vả quá!

          Vất vả thật. Cả đoàn đều vất vả. Vất vả từ cái ăn kiểu giới thiệu đặc sản rau su su, đến điều kiện sinh hoạt. Vậy mà, chẳng một ai trong đoàn nản chí. Ai cũng muốn cho chuyến đi lần này có giá trị trong vốn sống của mình và trong sáng tạo hôm nay. Người Quảng Bình là vậy. Cái ác liệt, gian khổ, khó khăn tột cùng tột độ trong cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ cách đây hơn một phần ba thế kỷ, mà đã vượt qua và chiến thắng, thì chẳng có điều gì ngăn nổi bước ta đi. Dù ăn uống trên độ cao gần 1.500 mét, xa xôi còn kém chất dinh dưỡng nhiều lần, so với bữa cơm ở nhà, dù mỗi bước đi là lên xuống đèo dốc quanh co, khúc khuỷu, nhiều khi lên xuống hàng trăm bậc đá, hết ngồi viết, vẽ, ghép tranh là họ lại đi khám phá để biết nhiều hơn về danh thắng và tình người Tam Đảo, để tìm nguồn cảm hứng trong sáng tạo.

          Đứng trên Tam Đảo nhìn về xuôi là ngã ba Hạc, nơi hợp lưu giữa sông Lô nước trong xanh như ngọc với sông Hồng ngàn năm nước đỏ. Xa xa về phía bên kia là đỉnh Ba Vì bồng bềnh trên " biển đá". ". Do chỉ cách Thủ đô hơn 80 cây số, nên đêm đêm nhìn về phía Việt Trì, Hà Nội vẫn thấy điện ánh lên cả một vùng trời. Khí hậu mát mẻ với nhiệt độ trung bình cả năm là 18 độ C, thu hút muôn khách lên thưởng thức. Từ những năm đầu của thế kỷ XX, người Pháp đã lên đây xây dựng nơi nghỉ mát. Từ năm 1904 đến năm 1939, mà người Pháp đã xây 150 biệt thự kiên cố, có đường ô tô từ Vĩnh Yên lên. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, quân và dân Tam Đảo đã dũng cảm chiến đấu, đánh sập 145 nhà, được Bác Hồ khen và tặng nhiều phần thưởng cao quí... Từ tháng 8 năm 1967 Tam Đảo được nâng lên thành thị trấn. Người dân ở đây kể lại rằng: Từ năm 2004 xét thấy tỉnh Vĩnh Phúc chỉ có tám huyện thị, một con số mà nhiều người  thường kiêng kị trong cái quan niệm " sinh - lão - bệnh - tử", ông Chủ tịch tỉnh liền thành lập huyện Tam Đảo thành chín huyện thị. Vậy là Tam Đảo có " ba cửu ": chín huyện thị, có gốc cây đa trước Đền Trình có chín gốc và chín vía của con người , cạnh cây thông nghìn tuổi ...

          Càng đi càng biết được nhiều, càng có nhiều hứng thú và nâng cao trách nhiệm của người văn nghệ sĩ đi sáng tác trên  vùng đất thiêng. Tất cả đều vui vẻ, đều say sưa sáng tạo. Mới ngày đầu các nhà thơ Lý Hoài Xuân, Lê Đình Ty, Thái Hải, Hồng Thế, Đỗ Quí Dũng, Giang Biên, Thu Cúc, Thu Huề đã có thơ viết về Tam Đảo. Cảm xúc ban đầu bao giờ cũng thú vị nên có thơ hay. Cứ đà ấy, họ đã tranh thủ mọi thời gian, nhiều người chăm chú sáng tác suốt cả ngày, suốt thâu đêm. Trước khi ngã ốm tìm đường về quê, Đinh Duy Tư cũng đã viết xong một chương của tiểu thuyết và để lại trại một truyện ngắn " Tên em thời chiến tranh". Kim Cương vừa viết bổ sung hoàn chỉnh tập truyện ngắn " Cao số" và bút ký " Lên Tây Thiên sáng tác". Lý Hoài Xuân hoàn chỉnh tập lý luận, bình thơ và chân dung nhà thơ với tiêu đề " Bơi giữa dòng đời - Bơi giữa dòng thơ" và hai bài thơ mới. Hồng Thế hoàn chỉnh tập thơ " Đi qua mỗi ngày", còn viết thêm một trường ca " Su su" bốn chương và nhiều bài thơ khác. Lê Anh Phong cồng kềnh vợ con và bao chuyện xoay quanh cái đại diện báo Văn nghệ Trẻ vẫn chỉnh lý xong tập thơ " Có một gã khờ", viết xong đề cương vở kịch thơ " Tình sử Huyền Trân" và viết xong bút ký " Tam Đảo mờ sương lưu giữ ngàn năm cổ tích" kèm theo một chùm thơ " Tam Đảo thập ngũ thi tứ" gồm 15 bài. Đỗ Quí Dũng sửa xong bản thảo tập thơ " Người hát rong" vừa viết thêm ba bài thơ. Nhà thơ Giang Biên lại chuyển hướng, viết xong tập truyện ngắn " Chuyện làng chài" và bốn bài thơ. Thái Hải với bài thơ dài " Ta tìm ta giữa xứ lạ mù sương" gồm ba khúc. Trần Thu Huề vừa hoàn chỉnh tập thơ " Lời hẹn" vừa viết mới 6 bài thơ. Lê Đình Ty vừa hoàn thiện vần B trong công trình sưu tầm và biên soạn cuốn " Từ điển phương ngữ tiếng Việt Quảng Bình", vừa viết thêm bốn bài thơ. Nguyễn Hữu Phi viết xong 2 truyện ký và 5 bài thơ mới. Trước lúc tạm biệt trại để làm nhiệm vụ đưa Đinh Duy Tư về, Trương Thu Cúc còn để lại ba bài thơ. Họa sĩ Văn Đắc hoàn thành ba tác phẩm cỡ lớn và một số ký họa bằng bẹ chuối. Còn người đa tài như Dương Đức Liên thì vừa miệt mài trên vi tính đồ họa xong hai tác phẩm: " Thời gian" và " Tam Đảo" in màu, còn hoàn chỉnh bản nhạc hòa tấu nhạc cụ dân tộc " Dập dìu Thác Bạc"...

           Cả đợt, chỉ mười lăm ngày thôi, mười lăm ngày với cái thời gian quá ít ỏi với bao trắc trở khó khăn ấy, mà vừa tổ chức được ba buổi tham quan thưởng thức danh thắng và các Di tích lịch sử - văn hóa, mà chúng tôi đã sáng tác và hoàn chỉnh trên Tây Thiên hai tập văn xuôi, một tập lý luận và phê bình văn học, một vần từ điển, một chương tiểu thuyết, một truyện ngắn, hai truyện ký, bốn tập thơ, một đề cương kịch thơ, 41 bài thơ, gần 10 tác phẩm mỹ thuật và một bản nhạc... quả là sức sáng tạo phi thường, đầy trách nhiệm.

          Đó làm nguồn vui, niềm tự hào của người văn nghệ sĩ - những người con của quê hương Quảng Bình vừa giỏi chịu đựng, vừa giỏi sáng tạo. Mang tất cả niềm vui, chúng tôi tạm biệt Tam Đảo, tạm biệt Tây Thiên. Mây trắng và bạt ngàn rừng xanh ở chốn linh thiêng cứ vần vủ, quấn quýt bên mình...

 

                                                                   Tam Đảo, 4/9 - 18/9/2009

 

                                                                                                K.C

 

 

 

KỲ TÍCH MINH HOÁ

                            

                                     

 

          Lâu lắm rồi văn nghệ sĩ Quảng Bình mới được lãnh đạo một huyện, lại là một huyện miền núi xa xôi như Minh Hoá hai lần đưa xe về tận thành phố Đồng Hới, đón mời lên bàn chuyện hệ trọng - việc chuẩn bị tuyên truyền cho kỷ niệm 20 năm tái lập huyện ( 1/7/1990 – 1/7/2010).

          Giữa tháng 5 trời nóng như đổ lửa, 12 anh chị em chúng tôi được ngồi trò chuyện râm ran trong khí của điều hoà nhiệt độ mát rượi, tôi bỗng nhớ lại cái thời chưa xa. Thời ấy, ai có “ uy” mới được lên Minh Hoá bằng xe U oát, trần bạt nóng ran, người đẫm mồ hôi, ngồi tự cải biên bài hát của cố nhạc sĩ Trần Hoàn “Đường lên Qui Đạt trên cái xe nó xóc, trong gió bụi mịt mù...” để động viên nhau cố gắng vượt qua chặng đường nham nhở đá sỏi, chênh vênh bên vực sâu, qua cầu Sắt, vượt dốc Lớ, dốc Cáng, đi hơn một buổi mới đến nơi. Bây giờ thì đi từ Ba Đồn lên, hay theo đường Hồ Chí Minh, dù phải qua cả đèo Đá Đẽo, cũng chỉ chưa đầy hai giờ.  Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nhớ lại những đợt đi xe máy và nhà thơ Văn Lợi nghĩ lại thời “ yêu nhau tam tứ núi cũng trèo” lên làm rể và những chuyến lên thăm bà con bên vợ mà còn rợn cả gáy. Ngồi vu vu xuyên qua bạt ngàn rừng núi của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, anh Đinh Xuân Đình, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Minh Hoá bồi hồi nói:

- Từ năm 1990 trở về trước, hệ thống đường giao thông trong vùng chưa có gì đáng kể. Ngoài những con đường được làm để phục vụ chiến tranh trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ như Quốc lộ 12A, Quốc lộ 15 và Quốc lộ 29 vừa nhỏ, vừa trải qua chiến tranh đầy “ổ voi”, “ổ bò”, đường đến các xã chỉ là những lối mòn. Các xã Hoá Sơn, Hoá Phúc, Tân Hoá ô tô không đến trung tâm được...

Bây giờ thì... toàn là đường rải thảm nhựa, đường đổ bê tông phẳng lì, rộng thênh thang. Xuyên qua huyện Minh Hoá có 56 Km đại lộ Hồ Chí Minh, 53Km đường 12A, 25Km đường xuyên Á, đường Quy Đạt đi Tân Hoá, đường từ Hoá Tiên lên Hoá Phúc, từ Cầu Roòng lên Pheo, từ Khe Ve lên Cha Lo, đường vượt đèo Lập Cập đến các bản dân tộc của Hoá Lương – nơi mà nghĩa binh của Tôn Thất Thuyết và tướng Nguyễn Phạm Tuân của Vua Hàm Nghi đã đánh cho quân Pháp những trận tơi bời. Chỉ một bản Lòm hơn 10 hộ người dân tộc cũng được đầu tư hơn 80 tỷ đồng để làm đường btông vượt sông, vượt đèo cao hiểm trở. Bản Bloóc chỉ hơn 20 hộ cũng được đổ một đường bê tông hơn 20 tỷ đồng... Đường về tận các thôn, bản. Đường xuyên qua các xóm, qua những rừng cao su xanh tốt, những đồng lúa chín vàng và những bãi ngô đang mùa thu hoạch... Đường bê tông, đường nhựa ken dày các khu dân cư... Đi trên các tuyến đường êm ái, nhiều văn nghệ sĩ đã phải thốt lên: “Đường ở các xã của huyện Minh Hoá tốt hơn nhiều đường nhiều phường –xã ở thành phố Đồng Hới!”. Có người còn chỉ trích: “Đường vào vùng Kim Cương ở, đường ở các phường Bắc Lý, Bắc Nghĩa, Đức Ninh Đông, Đồng Sơn, Lộc Đại... còn kém xa!”...

Rong ruổi trên đường, “ vi hành” qua các khu dân cư của huyện và theo những lời giới thiệu của anh Đinh Xuân Đình, đã thấy là kỳ tích của người Minh Hoá. Về trung tâm huyện lỵ, được ngồi bàn chuyện hệ trọng của huyện sắp đến, được nghe đồng chí Đinh Minh Chất, Chủ tịch huyện báo báo sơ bộ những thành tựu của huyện trong 20 năm qua và nói chuyện, càng thấy nhiều kỳ tích hơn. Đồng chí Chủ tịch nói:

- Báo chí và rất nhiều người nói Minh Hoá là một trong những huyện nghèo nhất của cả nước. Chúng tôi thì thấy Minh Hoá không nghèo!...

Chỉ nghe một câu nói của Chủ tịch huyện như vậy đã làm cho rất nhiều người, không chỉ là những người trong đoàn chúng tôi, mà nhiều người ở xa Minh Hoá quá ngạc nhiên. Không nói là ngày xửa ngày xưa, mà cho đến bây giờ, ai chưa từng đến, ai chưa từng “ mục thị”, ai cũng cho rằng: Minh Hoá là vùng xa xôi, heo hút, là nơi muôn thứ cơ cực, thậm chí có người còn buông ra: “ Nói chi cái nơi mọi rợ ấy!”... Những năm 90 của thế kỷ trước trở về trước, Minh Hoá quả là huyện nghèo khổ cực độ. Tôi là người từng gắn bó dài ngày trong thời kỳ đầu tái lập huyện, từng được “ cử” làm “ thư ký xóm Minh Hoá” mà “ trưởng xóm” là anh Cao Văn Đàn, Bí thư Huyện uỷ và “ phó xóm” là anh Đinh Xuân Bội, Chủ tịch huyện, lúc vui kéo nhau lại, gọi thêm cả anh Đinh Xuân Đình ( còn gọi là Rôbe Đình) bấy giờ là Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, anh Đinh Minh Thử trưởng Công an huyện, anh Cao Thanh Bình ( còn gọi là đại quân) Chánh án toà án huyện, anh Diện trưởng Phòng giáo dục,anh Chất và anh Đức phó trưởng Công an huyện... xúm nhau lại nhậu lai rai vài con “ôôc trực” với vài ly “bia khổ” hay rượu sắn, gõ bát, hát cả đêm. Sáng dậy, chúng tôi lại lội khe qua quán ông Tiếp làm người một tô mì tôm là đã sảng khoái!.

Từ ấy, với cái bài dài ngoẵng “ Rộn rạo Minh Hoá” đăng trên một số báo, tôi “ năng”  lên Minh Hoá. Mỗi lần lên là mỗi lần thấy Minh Hoá có nhiều đổi thay. Lẽ tất nhiên là Minh Hoá chưa giàu so với các địa phương giàu, nhưng người Minh Hoá vẫn có cái quyền tự hào với những thành tựu quá sức tưởng tượng mà mình đã đạt được. Theo các số liệu trong báo cáo của đồng chí Chủ tịch huyện trình bày, thì lĩnh vực nào Minh Hoá cũng phát triển, tăng trên 200% so với năm 1990. Người Minh Hoá, vốn tự trọng, chịu thương, chịu khó, cần cù, nhẫn nại đã chuyển mình mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng. Điều thực tế đã chứng minh cho chúng tôi trong hai ngày  “mục sở thị” là bên cạnh những khu rừng nguyên sinh, những vùng đất hoang, đồi trọc đã biến thành những rừng cao su, ngô, lạc bạt ngàn, xanh tốt. Bên cạnh đó là những đàn gia súc hàng chục ngàn con, hàng trăm ao cá với đủ các loại cá bổ sung thêm ngành thuỷ sản cho huyện. Đi đâu chúng tôi cũng gặp những xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, những nhà máy gạch tuy nen, những cơ sở chế biến gỗ. cơ khí, sửa chữa các phương tiện giao thông... Cùng với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cha Lo là hàng ngàn cơ sở dịch vụ thương mại, luôn bày bán đủ các loại hàng hoá. Người dân Minh Hoá cần gì cũng có. Người mua  có thể chỉ cần điện thoại di động với người bán là có hàng đến tận nhà. Đồng ruộng Minh Hoá ngày càng mở rộng, với nhiều giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, mà theo anh Đinh Xuân Đình trò chuyện dọc đường lên Đập Ba Nương, thì có vùng năng suất lúa dẫn đầu trong tỉnh. Người Rục như anh cựu chiến binh Trần Trung Trực, ở bản Yên Hợp, được bộ đội biên phòng giúp đỡ,  đã khai hoang, tìm cách dẫn nước về làm được mấy sào lúa, mỗi vụ cũng thu được gần tấn thóc, mở đầu cho dự án Rục – Làn cải tạo vùng đồi thành gần 10 ha ruộng lúa nước cho đồng bào Rục, với hệ thống dẫn nước dài gần 3000 mét. Đi giữa cánh đồng lúa vàng trĩu hạt của vùng Xuân Hoá, nhìn những chàng thanh niên, thiếu nữ trẻ trung áo quần ướt đẫm mồ hôi đang dùng võng cáng lúa, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Đinh Xuân Đình nói:

- Những năm 90 của thế kỷ trước, ở huyện Minh Hoá này có đến 80% hộ gia đình thiếu ăn từ ba đến năm tháng. Bây giờ thì ngô, sắn, khoai đầy đồng, đầy nhà, nhưng lúa gạo cũng ngày càng nhiều, cơm ngon, canh ngọt làm cho người Minh Hoá “ phải đành bỏ qua” món bồi truyền thống rồi...

 Có cái ăn, cái để và đã tạo ra được nhiều điều kiện thuận lợi, việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong toàn huyện đã phát triển một cách nhanh chóng. Nếu như hồi mới trở về lại với huyện cũ của mình, Huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện chỉ có mấy dãy nhà cấp 4, nhiều cơ quan đơn vị phải mượn nhà dân để làm việc, nhà xây lợp ngói trong toàn huyện chỉ bấm trên đầu ngón tay, còn lại đều nhà tranh vách đất, thì giờ đây, nhà nhiều tầng đã mọc lên dày đặc. Các trụ sở làm việc của các cơ quan đơn vị và 16 xã, các trường học, bệnh viện đều hai- ba tầng, sơn đủ màu sắc. Cả thị trấn Quy Đạt như một đô thị khang trang, sạch, mát. Đến như nhà văn Hoàng Thái Sơn, sau một tiếng chợp mắt vì tuổi cao, đi  “vi hành” nhiều nơi về mệt, mới dậy, đã nói: “ Khách sạn mình đang nghỉ e phải 4 sao!”. Chưa ai dám cho mình là mấy sao cả, nhưng ở Minh Hoá đã có nhiều khách sạn đạt tiêu chuẩn cao. Nhà “lầu”, nhà xây ở các xã san sát. Điện lưới quốc gia và hệ thống điện thoại đã đến tận các xã. Sóng phát thanh và truyền hình đã phủ khắp cả huyện. Ngoài bệnh viện đa khoa với 85 giường bệnh, 1 trung tâm y tế dự phòng và 1 phòng khám khu vực, xã nào cũng có trạm y tế trong đó có gần 69% số trạm đạt chuẩn quốc gia. Các bản Ón, Mò ó - Ồô, Yên Hợp.. của người Rục, bản Ra Mai, bản Hoá Lương và nhiều bản của người dân tộc Minh Hoá đều được xây bằng gạch và xi măng, lợp tồn đỏ thắm, bên những tuyến đường bê tông, đường điện sáng như những phố núi. Theo thống kê của huyện, thì Chính phủ đã hỗ trợ cho 1989 hộ đồng bào dân tộc, với số tiền trên 35 tỷ đồng để xây nhà ở. Nhìn những phố núi của đồng bào dân tộc, nhà thơ Lý Hoài Xuân phải thốt lên: “ Nhiều vùng nông thôn ở dưới xuôi chưa có được hệ thống nhà ở như rứa!”. Khánh Tùng - vợ của nhà thơ Văn Lợi, khi nghe anh Đinh Xuân Đình thông tin một số tình hình còn nói: “Được xây nhà đàng hoàng cho mà ở, được cấp phát lương thực hàng tháng sướng thật, e xin lên đây mà ở!”. Ừ, ai lên Minh Hoá mời lên!.

Lên Minh Hoá bây giờ không chỉ có xe ô tô khách sang trọng mỗi ngày hai mươi chuyến xe đi về Đồng Hới và các nơi, chưa kể hàng trăm xe ngược xuôi Minh Hoá, qua cửa khẩu Cha Lo, mà ngay dân trong huyện cũng đã có 79 xe tải, 69 xe bán tải và 77 xe con, còn xe máy thì chưa thống kê được. Đứng trên sân thượng khách sạn nhìn xuống, Phó chủ tịch huyện Trần Hữu Diện nói với chúng tôi:

- Xe mô mà nhiều thế, xe chi cũng có, xe xịn cũng không ít, ông Kim Cương có nhớ hồi mới tái lập, cả huyện chỉ có 6 cái xe tải và 3 cái xe U oát đã qua đại tu vài lần. Sau đó, phòng giáo dục mình  sắm được cái U oát đã ghê lắm, vậy mà bây giờ nhìn xe chạy trên đường mà chóng mặt, khó mà tưởng tượng nỗi!.

Đó cũng là một kỳ tích. Điều khó tưởng tượng hơn là trong chuyến  "vi hành” trở lại đồng bào Rục, khi hỏi về đời sống của họ, trung tá Phạm Xuân Diệu, đồn trưởng Đồn biên phòng 585- đơn vị đóng quân giữa các bản của đồng bào Rục, đang chỉ đạo thi công dự án Rục – Làn, cho biết: Người Rục hiện đã có 25 xe máy và đã biết sử dụng điện thoại di động... 88 hộ đồng bào Rục vừa rũ bỏ cảnh “ăn lông, ở lỗ” trong hang, lên ngồi rú ga trên 25 chiếc xe máy, phóng đi trên đường bê tông ra đại lộ Hồ Chí Minh chỉ mất vài chục phút, liên lạc thì bằng điện thoại di động, muốn xem ti vi lúc nào cũng được, điện trong nhà luôn sáng như ban ngày, lại có cả trường học và nhà văn hoá xây khang trang...quả là như huyền thoại. Còn nhớ, cách đây gần chục năm, thời tôi là chỉ huy Phòng chính trị Công an tỉnh và Công an tỉnh được phân công đỡ đầu xã Thượng Hoá, mà chủ yếu là đồng bào Rục xoá đói giảm nghèo, mỗi năm hai ba đợt lên tặng quà, lại còn vận động một số  “mạnh thường quân” như báo Công an nhân dân, báo An ninh thế giới, báo An ninh thủ đô... ủng hộ giúp đỡ xã xây trạm xá, rồi đưa các loại y cụ và đủ các loại thuốc lên để chữa bệnh cho dân, đưa cả dàn âm thanh, ti vi cỡ lớn, sách, vở, áo, quần lên tặng. Có lần, được sự uỷ quyền của báo Công an nhân dân, chúng tôi lên làm việc với xã để chuyển hoá 20 triệu đồng báo tặng, thành hiện vật, nhưng lãnh đạo xã trả lời là không biết lấy thứ gì nữa, vì đã đủ cả rồi, ti vi thì các gia đình đồng bào Rục đã có!... Nghe câu trả lời rất thật của đồng chí Chủ tịch xã lúc ấy đã thấy như huyền thoại rồi. Bây giờ thì càng huyền thoại hơn...

Hai mươi năm - Chỉ mới 7.300 ngày đêm mà  bốn vạn tám nghìn sáu trăm tám mươi tám người dân huyện Minh Hoá, quanh năm sống trên vùng núi rẻo cao xa xôi, với bao vất vả, khó khăn, mà đã làm nên bao điều kỳ vĩ. Người viết, cũng là người chứng kiến từng bước chuyển mình bứt phá của huyện muốn đưa vào tất cả những kỳ tích mà người Minh Hoá đã làm nên, trên nhiều lĩnh vực khác, chỉ e rằng “ phạm thượng” hoặc “lấn sân”. Chắc rằng tất cả những thành tựu, những kỳ tích ấy sẽ được đồng chí lãnh đạo huyện, thay mặt nhân dân tự hào phấn khởi khoe với mọi người trong ngày vui đại lễ, để rồi ai cũng vấn vương với Minh Hoá, ai cũng tin vào sức bật mới của Minh Hoá.

“ Rằng là ai lên Minh Hoá quê mình...”. Câu hò thuốc “đượm tình”, mang nặng lòng mến khách của người Minh Hoá đã cất lên từ lâu, vang động tận bây giờ. Lên với Minh Hoá bây giờ du khách không chỉ luôn được sống trong lòng ân ái của vùng đất giàu tình cảm, được trở về với những kỳ tích lịch sử như Ngầm Rinh - Cổng trời – Cha Lo – Khe Ve – Đá Đẽo – nơi một thời vua Hàm Nghi đã đóng đô truyền “ Chiếu Cần Vương” kêu gọi toàn dân đánh Pháp... không chỉ được nghe và chứng kiến những kỳ tích mà người Minh Hoá đã làm được trong 20 năm qua, còn được thưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng trong chuỗi hang động Tú Làn - Tố Mộ vừa được khám phá.

Minh Hoá đang trở thành điểm hẹn!.

 

 

                                                                             Tháng 5 năm 2010

 

 

 

 

          TRỞ LẠI VỚI NGƯỜI RỤC

 

                                                         

 

          Cho đến tận bây giờ, mỗi khi nói về vùng đồng bào người Rục, là trong người tôi cảm thấy rờn rợn. Lẽ tất nhiên là không phải tôi sợ khó khăn, sợ khổ. Đời lính đã trải qua chiến tranh tàn khốc, đã từng đi khắp mọi nơi, vượt qua biết bao hiểm nguy trong gần 40 năm, làm cho tôi lỳ lợm và coi thường tất cả mọi sự cản trở đối với mình. Cái rờn rợn mà tôi nói chỉ là một dấu ấn không bao giờ quên về một chuyến đi đầy gian nan cách đây 8 năm, với chuyến đi hôm nay.

          Hồi ấy, với tư cách là chỉ huy Phòng công tác chính trị Công an tỉnh Quảng Bình, tôi chỉ đạo đội tuyên truyền đi làm film “ Người Rục hôm nay” để dự liên hoan truyền hình Công an nhân dân toàn quốc. Bấy giờ là tháng ba. Mùa Xuân đang trải rộng khắp nơi. Cùng đi với tôi có thiếu tá Đinh Giang Thuỷ làm biên tập và trung uý Quách Việt Hùng quay camera. Vừa lên đến huyện thì được biết trước đó mấy ngày vùng xã Thượng Hoá có một trận mưa rất to. Theo người dân ở đây, sau mưa ít nhất một tuần mới vào Rục được. Trong người thiếu tá Thuỷ bỗng nổi cơn ớn lạnh. Công việc lại đang đòi hỏi gấp rút, bởi chỉ hơn nửa tháng nữa là đã diễn ra cuộc thi tại thành phố Cần Thơ, mà làm xong Film còn phải qua nhiều khâu kiểm duyệt. Tôi cố động viên anh em đi. Dẫn đường là một trung uý của Đồn biên phòng 585 và một đại uý cảnh sát của Công an huyện Minh Hoá, theo sau là ba chúng tôi với lỉnh kỉnh hành lý, máy móc, lại còn mấy thùng mì tôm và một can rượu ngon 5 lít để lên biếu đồng bào. Trước mắt là phải vượt qua cả dãy núi lèn cao chọc trời. Chúng tôi phải cẩn thận từng bước chân len lỏi trên vách đá tai mèo, bằng dày bata, chỉ nhìn thẳng không dám nhìn xuống, vì phía dưới bên cạnh chúng tôi là vực sâu thăm thẳm, lỡ chân rơi xuống thì khó leo lên lại đường mòn. Nhiều lần phải lội suối, lội qua những đoạn đường đá phủ dày bùn trơn. Chàng thiếu tá Thuỷ thì liên tục xoạc chân,  “lấy thân làm thước đo đường”. Chúng tôi đi như vậy liên tục hơn bốn giờ đồng hồ mới tới nơi. Càng đi, càng cảm phục các chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang trước đây và Bộ đội biên phòng ngày nay, cảm phục nhiều cơ quan đoàn thể, cảm phục đồng bào ta suốt hơn 40 năm luôn vào ra, mang cả hàng hoá, thuốc men  chăm sóc đồng bào Rục và mưu sinh... Thời ấy, đồng bào Rục và cả các chiến sĩ trong trạm biên phòng ở đó cơ cực quá, sống chỉ biết hạt ngô, củ sắn và rau rừng...Nhà cửa thì tạm bợ. Được ăn mì tôm và uống rượu chúng tôi mang từ dưới xuôi lên như buổi liên hoan ngon miệng. Chúng tôi đến tận các bản, các gia đình, tận các buổi đồng bào đang sản xuất và những cái hang ngày xưa người Rục từng sống... Những tư liệu thu thập và những thước Film quay được quả là giá trị. Khi trở về, ra khỏi rừng, đến bờ đê của đập nước cách trung tâm xã Thượng Hoá gần hai cây số, tất cả đều nằm xoài trên bãi cỏ, thở phào nhẹ nhõm dưới nắng nhạt hoàng hôn. Chàng thiếu tá Thuỷ và trung uý Hùng bỗng oà ra một câu: “ Thoát chết rồi!”. Đêm ấy, trời đổ mưa dữ dội. Đúng là chúng tôi quá gặp may. Điều vui hơn là Film “ Người Rục hôm nay” của chúng tôi đã đoạt Huy chương Bạc, trong liên hoan Film lần ấy.

          Lần này trở lại với đồng bào Rục, một số anh em văn nghệ sĩ chúng tôi được đi trên một chiếc xe sang trọng. Đường vào các bản Rục đã được đổ nhựa, đổ bê tông. Nhiều dãy lèn cao hơn chục mét đã được xẻ ra thành đường. Từ Đại lộ Hồ Chí Minh vào chỉ mất chưa đầy nửa giờ. Như vậy đã là một kỳ tích, mà mấy năm trước đây, nhiều người giàu trí tưởng tượng cũng không thể nghĩ đến.

          8 năm - mới chưa đầy 3000 ngày mà cuộc sống của đồng bào Rục đổi thay quá nhanh chóng. Ký ức về những túp lều tranh rách nát, xiêu vẹo nằm rải rác bên những lối mòn cỏ lấn, khúc khuỷu, khiến tôi có đôi chút bất ngờ khi “ mục sở thị” những ngôi nhà gạch vuông vắn, lợp mái tôn đỏ thắm, nhỏ thôi, nhưng chắc chắn, trải dọc ven những con đường đổ bê tông phẳng lì như phố núi. Điện, đường, trường, trạm và nước sạch xem ra đều có đủ. Sau khi bấm vội được vài kiểu ảnh, tôi liền gặp một người dân. Anh ta đang gùi trên lưng một gùi ngô to bự, quả nào cũng bằng cả bắp tay, hạt to đều, vàng rộm.

          - Mùa này có được không? – Tôi hỏi.

          - Quá được! Được mùa lắm!... – Anh ta cười và nói: - Từ khi Đảng và Nhà nước cho cái nhà ở kiên cố, cho điện sáng, cung cấp lương thực, thực phẩm, áo quần, thuốc chữa bệnh, được Bộ đội biên phòng hướng dẫn cho cách trồng lúa, trồng ngô, khoai sắn và chăn nuôi, nên làm cái chi cũng được...

          Đặt cái gùi xuống cạnh đường, anh ta đưa tay chỉ vào ngôi trường xây kiên cố và nói tiếp:

- Các anh các chị thấy đó. Nhà nước đưa cả trường học đến tận các bản người Rục. Con em mình được đến trường gần nhà để học chữ. – Anh ta lại cười và buông ra một câu như đùa: - Mình kể để các cán bộ biết, khi mới có điện, đưa từ các cái cột điện trước mặt mình đó về tận các nhà, dân mình không dám nhìn bóng điện, vì nó... sáng quá, đau cả con mắt. Thì ra điện sáng hơn lửa rừng nhiều... Những đêm đầu, cả bản ai cũng không ngủ được vì nó sáng quá. Người ta cứ ngồi nhìn nhau cả đêm. Thấy gió to mà điện không tắt, vậy là già, trẻ, gái trai vui mừng nhảy múa, hát hò vang cả rừng...

Nhìn gương mặt rạng rỡ, đầy phấn khích của anh, tôi cảm thấy giật cả mình. Giật mình với sự đổi thay quá nhanh chóng của vùng Rục. Nhớ lại cách đây hơn nửa thế kỷ, người Rục sống ở các hang đá trong rừng sâu của vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng, tách biệt với xã hội bên ngoài, đời sống của họ là săn bắt, hái lượm, che thân bằng vỏ cây; dụng cụ săn bắt chủ yếu là cung, nỏ và đặt bẫy. Họ duy trì sự sống nhờ vào củ nâu, củ mài, thịt thú rừng, ốc, cá dưới khe. Cuộc sống khắc nghiệt tiêu diệt dần người Rục và họ sẽ chấp nhận và cứ tiếp diễn như vậy từ thế hệ này đến thế hệ khác, nếu như năm 1959, lực lượng Công an nhân dân vũ trang ( Ty Công an Quảng Bình) không tình cờ phát hiện. Từ đó đến nay là một quá trình dài “đưa người rừng ra khỏi hang” để hoà nhập với cộng đồng, được các cấp chính quyền, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, các nhà hảo tâm và Bộ đội biên phòng thực hiện. Nói thì giản đơn, nhưng tránh được nguy cơ tuyệt chủng, quảng thời gia dài, người Rục cứ luẩn quẩn trong cái vòng “ ra rồi lại vào hang”, nhiều khi tưởng không thể thoát được. Với dự án “ Phát triển kinh tế - xã hội vùng người Rục”, tỉnh Quảng Bình đã đầu tư 32 tỷ xây nhà ở, hoàn thành đường điện, đường giao thông nối từ Đại lộ Hồ Chí Minh về tận các bản làng của đồng bào, tạo thuận lợi cho việc thông thương, giao lưu giữa vùng ngược với vùng xuôi. Ngành điện đã đầu tư xây lưới điện 22KV từ xuất tuyến 473 trạm biến thế áp trung gian Quy Đạt đến bản cuối Mù U với chiều dài hơn 32 Km, 5 trạm biến áp, dung lượng mỗi trạm 50KVA và hàng chục tuyến lưới điện hạ thế, 177 công tơ, cáp điện, bóng đèn lắp vào từng nhà cho các hộ đồng bào Rục. Công an tỉnh Quảng Bình mấy năm liền nhận đỡ đầu xoá đói giảm nghèo cho xã Thượng Hoá, trong đó có đồng bào Rục, vừa vận động cán bộ chiến sĩ mỗi năm mỗi người trích một ngày lương, quyên góp đủ mọi thứ chuyển lên, lại còn liên hệ và kêu gọi các “ mạnh thường quân” như: Báo An ninh Thế giới, Báo Công an nhân dân, báo An ninh Thủ Đô, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, báo Công an Đà Nẵng, Công ty rượu – bia - nước giả khát Hà Nội, Công ty Vincom...thường xuyên hỗ trợ, đổ vào nơi này hàng trăm triệu đồng để xây dựng trạm xá đủ y cụ và thuốc men, trang thiết bị trường học, xây dựng các công trình văn hoá, mang cả ti vi đến tận mọi nhà và hàng nghìn phần quà. Cả huyện Minh Hoá cũng tập trung đổ dồn vào đây cốt mong người Rục mau đổi đời... Đã có lần, sau một trận lụt, một số nhà báo chưa nắm vững tình hình, thiếu thận trọng đưa ra một loạt bài phản ánh người Rục đang đói lả, làm cho Chính phủ không an tâm chỉ đạo tỉnh Quảng Bình phải giải trình và làm rõ trách nhiệm của mình. Cả tỉnh và rất nhiều ngành trong nước lại đổ về hỗ trợ đồng bào Rục, nhưng khi đến tận nơi, thì chính người Rục lại trả lời rằng: “ Có ai đói đâu!”. Và thực tế là nhiều nhà đang còn đầy cả bồ ngô, ngoài rẫy còn đầy khoai sắn. Đài truyền hình tỉnh còn quay được những bữa ăn của đồng bào Rục có cơm, có cả những nồi nấu những con lươn to vàng rộm!... Cứ nghe nói đến đồng bào Rục là tất cả đều lo...

Chính sự đầu tư ồ ạt theo hướng cần gì cho ấy đã nảy sinh tính cách ỷ lại của đồng bào người Rục. Khi trò chuyện với chúng tôi, trung tá Phạm Xuân Diệu, đồn trưởng Đồn 585 – đơn vị đang đóng quân ở vùng Rục tâm sự: “Đã 51 năm đồng bào người Rục được Bộ đội biên phòng mình tìm thấy và giúp đỡ trở lại với cộng đồng. Trong 51 năm ấy tính ra đã gần ba thế hệ định cư. Nhà nước đã có biết bao chương trình đầu tư phát triển kinh tế cho bà con, vậy mà phần đông vẫn chưa biết cách làm ăn, cứ ngồi trông chờ Nhà nước đưa đến. Có những người bị ốm nặng, nhà chỉ cách trạm xá hơn 2 cây số, cũng cứ ngồi chờ cán bộ đến đưa đi chữa bệnh. Cuộc sống của họ cứ phó mặc cho người khác, như cái cảnh hơn nửa thế kỷ trước người Rục đứng bên cửa hang đá nhìn ra đại ngàn thâm u... Sau hơn 50 năm rời hang đá, cuộc sống của đồng bào Rục đến nay vẫn trông chờ chủ yếu vào sự trợ cấp của Nhà nước, không chỉ là cái nhà để ở, mà từ manh áo, cái quần để mặc, lương thực để ăn. Chuyện đó rất đáng buồn, rất nhức nhối mà chúng tôi nghĩ chẳng nên giấu các anh các chị làm gì. Tất cả chúng ta cần phải biết, biết để chung tay tìm cách giúp đỡ đồng bào”. Cách diễn đạt của người sĩ quan ấy cho thấy một ẩn ý: Cá chúng ta đưa rồi, cần câu cũng đưa nữa rồi, đừng để họ bẻ cần câu để nướng cá nữa...Chính các anh - những người lính biên phòng đang quyết tâm thực hiện điều đó. Các anh không chỉ thường ngày giúp bà con làm rẫy, hướng dẫn cho bà con trồng những loại cây và nuôi những con có năng suất và giá trị kinh tế cao, mà còn giúp anh cựu chiến binh Trần Trung Trực khai hoang vỡ đất làm 800 mét vuông ruộng luá nước, rồi làm kênh dẫn nước, đào ao trữ nước...

Ông Trực kể rằng: Ngày xuống đồng, bộ đội biên phòng xắn quần áo lội ruộng, gieo mạ, còn đồng bào thì đứng xem, chỉ trỏ bàn tán, chẳng ai biết bộ đội đang làm gì!. Cứ thế, lúa mọc lên rồi trổ bông. Bà con đi rừng ngang qua ruộng lúa của ông Trực lại không ngớt bàn tán. Đến khi thấy ông Trực thu hoạch mang nhiều bao thóc về chất kín cả nhà thì một số người tìm đến Đồn biên phòng nhờ bộ đội làm giúp cái hạt thóc. Có ai biết được để có những bao thóc đó, cán bộ chiến sĩ Đồn 585 đã phải ủng hộ mỗi người một ngày lương và đổ ra hàng trăm công lao động. Như vậy là đã thay đổi được tư duy của đồng bào. Trung tá Phạm Xuân Diệu nói:

- Chúng tôi chỉ có cách vận động bằng miệng nói, tay làm, mưa dầm thấm lâu, làm cho bà con thấy tận mắt. Từ thành công này, giờ đây chúng tôi đang triển khai dự án Rục  Làn, sẽ san ủi đồi thành ruộng và làm hệ thống kênh dẫn nước dài gần 3000 mét từ khe Rục Làn về, tạo thành 9 ha ruộng.

Dự án đó đang được thi công ngay trước cửa Đồn. Trước mắt chúng tôi là những chiếc máy ủi, máy múc đang theo sự điều khiển của người lái san đất, bên một hệ thống mương dẫn nước bằng bê tông vừa xây xong. Bước đột phá lúa nước đang mở ra hướng đi cho đồng bào Rục, đưa đồng bào vào con đường hoà nhập và phát triển. Rõ ràng, việc giúp đồng bào có được kỹ năng sinh tồn, hoà nhập với cuộc sống tốt hơn cái cách tổ chức đoàn đi cứu đói như lâu nay vẫn làm.

Không còn lạ lẫm về cách làm ra cái hạt thóc, bà con người Rục ngày càng tin vào sự hướng dẫn của Bộ đội biên phòng, của cán bộ huyện vừa tăng cường trồng thêm nhiều ngô, khoai, sắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm, vừa tích cực ủng hộ dự án Rục Làn để sớm có nhiều gạo thơm, cơm ngon. Nhiều gia đình người Rục còn mở các quày hàng dịch vụ kinh doanh các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống của bà con trong bản. Nhiều nhà đã khá lên từ những đàn bò, từ chăn nuôi. Theo trung tá Phạm Xuân Diệu cho biết thì đến nay trong vùng người Rục đã có 25 xe máy và nhiều người đã dùng cả điện thoại di động. Cái thông tin mà anh đưa đến đối với những người đi trong đoàn chúng tôi như là huyền thoại vậy.

Nhớ lại hồi tôi còn là chỉ huy Phòng Công tác chính trị Công an tỉnh, được báo Công an nhân dân uỷ nhiệm lên làm việc với xã Thượng Hoá để chuyển hoá 20 triệu đồng báo hỗ trợ thành hiện vật, nhưng lãnh đạo xã ngần ngại trả lời là không biết cần trang bị thêm thứ gì nữa, vì tất cả đều đủ rồi. Ti vi thì các gia đình đồng bào Rục đã có... Nghe câu trả lời của đồng chí Chủ tịch xã lúc bấy giờ đã thấy như huyền thoại rồi. Bây giờ nghe câu thông tin của đồng chí trưởng đồn biên phòng càng thấy huyền thoại hơn. Vừa rũ bỏ cái cảnh “ăn lông, ở lỗ” trong các hang đá, thay cho cả ngày trèo đèo lội suối mới ra đến xã là lên ngồi đề nổ, rú ga trên 25 chiếc xe máy phóng đi trên đường bê tông phẳng lỳ, ra Đại lộ Hồ Chí Minh chỉ mất vài phút, lên thị trấn Quy Đạt, đi chợ phiên, chợ Rằm cũng chưa đầy một giờ, vào thành phố Đồng Hới chơi và tắm biển cũng chỉ hơn hai tiếng đồng hồ mà thôi, lại có cả máy di động để liên lạc nữa... Một sự đổi đời chưa từng thấy bao giờ.

          Người Rục bây giờ đã khác xưa. Chia tay phố núi của người Rục, mà trước mắt tôi vẫn luôn hiện lên những cảnh huyền diệu.

                                                                                  

                                                                                      Tháng 7 năm 2010

 

 

 

 

 

 

Write a comment

Comments: 2
  • #1

    ngoclien (Monday, 06 January 2014 09:38)

    Các bạn trao đổi với nhà văn Kim Cương tại đây!

  • #2

    Hoài... (Wednesday, 22 January 2014 15:02)

    Một ông CA....một nhà văn...em rất ngưỡng mộ...