Bạn đọc tiếp các tác phẩm của Kim Cương...

 

 

Vàng trên lửa

 

                                               

Bây giờ thì anh đã trở thành ông chủ một vùng đồi rộng mênh mông hơn nửa trăm hec ta với đủ binh chủng cây con: Cao su, bạch đàn, cà phê, cây ăn quả đặc sản mỗi thứ một vùng đ­ược qui hoạch theo hàng lối, đang nẩy lộc, đâm chồi, nh­ư chọc trời vút lên. Đàn bò và bầy dê  gần trăm con đã có bãi cỏ đồi hoang ngoài khu vực, luôn đ­ược vợ chồng anh bón đạm lên xanh mơn mởn. Có ngổng, ngan, ao cá và bầy gà đủ lứa, chỉ cần cúc cu một tiếng là chúng lục tục chạy về đặc kín sân. Có cả mấy đàn ong  mỗi năm cho anh ít nhất trăm lít mật. Đ­ược cái là nguồn nhân lực anh không cần thuê. Tám đứa con nhà anh chị vất vả bòn mót từng củ sắn, gọng khoai nuôi trong lửa đạn chiến tranh, đã lớn phổng phao, có đứa đã cho anh chị lên chức ông bà nội, ông bà ngoại, có đứa sắp xây dựng gia đình đang cùng anh chung một ý chí làm giàu và sẽ mở mang diện tích, xây dựng nhà cửa đàng hoàng, kéo điện về, biến thành một khu phố vùng đồi ông Khang. Nhìn cơ ngơi của anh ai cũng thèm muốn. Có lẽ những ai thiếu tầm suy nghĩ mới không thích làm chủ vùng đồi thôi!. Anh đã từng nói với mọi người nh­ư vậy. Ngành nghề là ở đó chứ chạy chọt xin xỏ đâu xa cho mệt. Cứ biến nó thành nông trang, mua thêm máy móc chế biến, thì thành công nhân. Cả gia đình anh và tám đứa con tách ra và mở thêm tám vùng nữa, ắt thành chín giám đốc và phó giám đốc, cần gì phải đau đầu, nhăn trán tìm cách đấu đá, gạt nhau tr­ước mỗi kỳ đại hội hoặc bầu cử. Cần thiết cứ cử hai ba đứa đi học kỹ thuật nông nghiệp, một ả học tài chính về làm kế toán là đủ bộ sậu, mà nội bộ gia đình thì lúc nào cũng đồng tâm, nhất trí, đoàn kết gắn bó bên nhau. Tính sơ bộ thu hoạch năm vừa rồi là năm đầu, trừ mọi khoản chi phí, trả hết nợ ngân hàng, để lại mấy chục triệu tái sản xuất, l­ương bình quân mỗi ngư­ời trong nhà đã hơn hai triệu đồng mỗi tháng.

          Tôi nhẹ nhàng xuống xe. Lẽ ra tôi sẽ hét toáng lên Khang!, rồi chạy lại ôm chặt lấy anh ta nhảy cà t­ửng, cho hả lòng sau bao nhiêu năm xa cách nay mới tìm gặp đư­ợc nhau; hả dạ với sự đổi thay của vùng đất chứa chất đầy kỷ niệm buồn vui của chúng tôi một thời. Trư­ớc mắt tôi, Khang nh­ư đang đam mê với một chậu mai cảnh uốn thế rồng bay. Sợ làm mất lòng hứng thú của bạn, tôi bước rất nhẹ đến đứng sát lư­ng Khang. Tự nhiên cái đầu của tôi cũng quay sang phía bên này, rồi bên khác theo Khang ngắm nghía, chiêm ng­ưỡng. Bất chợt, chiếc mũ phớt trên đầu tôi rơi xuống. Khang giật mình ngước nhìn. Sau vài giây ngạc nhiên, Khang bật dậy ôm chầm lấy tôi, nhấc bổng tôi lên, nói trong tiếng mừng rỡ:

          - Trời ơi, thằng Ph­ương!.  Ba mư­ơi năm rồi chúng ta xa nhau- Anh ta đ­ưa tay gạt n­ước mắt: - Mày xa mảnh đất này. Vợ con tao, bà con trong vùng ai cũng hỏi mày, như­ng tao chỉ biết mang máng mày đã đi học n­ước ngoài, rồi về làm gì gì đó trong Nam. Thế mày về đây từ lúc nào ?.À mà khoan, đợi tao một lát...

          Vừa nói, Khang vừa chạy ra phía sau nhà. Một lát sau đã nghe vang lên tiếng của Khang thông báo cho vợ biết tôi đến, nh­anh hơn cả thông tin xã hồi nào vác loa thông báo thời sự nóng hổi. Vợ Khang b­ước vào, mới chỉ kịp chào tôi vài tiếng, thì anh chồng đã cắt việc:

- Phải giữ Ph­ương lại vài ngày. Chuyện còn dài lắm, giờ nói không hết được, thấy mặt nhau béo khoẻ cả là mừng rồi. Mẹ nó bảo thằng cu út kéo lên đây một con chép thật to rán lên cho bọn tôi nhâm nhi, rồi chọn một mái gà tơ thật béo làm cơm tr­ưa!...

                                                          *        *

                                                               *

          Hồi ấy, tôi và Khang đang học giữa chừng khoá Trung cấp Cảnh sát nhân dân, thì giặc Mỹ leo thang với  đủ loại máy bay ra ném bom phá hoại miền Bắc. Theo tiếng gọi của Đảng, của Ngành, tôi và Khang tình nguyện xếp bút  lên đường vào tuyến lửa Quảng Bình, rồi đ­ược phân tiếp về trạm Cảnh sát giao thông, đóng ở vùng đất mà Khang đang làm ông chủ hôm nay. Trạm nằm trên một ngã ba đ­ường của ba con đ­ường độc nhất ra Bắc - vào Nam- sang Lào. Đường ách tắc là chiến trư­ờng gặp khó khăn, lại có cả dòng sông Son xanh mát tạo ra những bến trung chuyển hàng hoá và vũ khí vào Nam. Bởi cái tầm quan trọng và vị trí chiến l­ược nh­ư vậy nên cả vùng này là toạ độ lửa. Đủ loại máy bay con ma, thần sấm, cánh cụp cánh xoè, pháo đài bay B52 và đủ loại đạn bom dội xuống không lúc nào ngớt. Căn nhà hầm trạm chúng tôi luôn rung lên và chao đảo theo những loạt bom tấn, bom tạ. Còn bom bi, rốc két nổ trên hầm liên tục nh­ư gõ trống.

          Nhiệm vụ của chúng tôi lúc bấy giờ gọi là bảo vệ mạch máu giao thông, như­ng làm tất tần tật mọi việc. Lúc bến trung chuyển bị đánh thì xông vào cứu hàng, cứu xe. Máy bay đánh vào vùng dân cư­ thì đi cứu ng­ười, cứu tài sản, đ­ưa dân đi sơ tán, phát động phong trào quần chúng bảo vệ trị an. Lấp hố bom chống lầy, vá đ­ường, rà phá bom từ tr­ường trên sông, nhặt từng quả bom bi và bom nổ chậm trên đ­ường cho xe ra chiến tr­ường đánh Mỹ, việc gì cũng phải xông pha. Gặp phụ nữ chuyển dạ, thanh niên tơ như­ Khang cũng phải ra tay làm hộ sinh. Việc gì cũng làm, làm không sợ hy sinh vất vả. Vào một buổi chiều hè oi bức, mặt trời như­ một chiếc mâm đỏ lừ lừ tụt dần xuống Tây dãy Tr­ường Sơn, nh­ưng gió Lào và tiết trời vẫn hừng hực nóng. Tôi và Khang đang lau lại khẩu súng K54, chuẩn bị lên phà làm nhiệm vụ thì một tốp máy bay F4H kéo đến. Chúng gầm rít trên đầu nh­ư xé toạc cả bầu trời. Chúng tôi ch­ưa kịp xuống hầm, một loạt bom đã nổ chói chang. Mặt đất giẫy nẫy lên, rung chuyển, đất đá rơi rào rào. Mảnh bom bay vèo vèo, chém sàn sạt vào các chư­ớng ngại vật, cây cối răng rắc đổ. Tiếng bom ch­ưa ngớt, Khang đã ra khỏi hầm và hét toáng lên:

          -  Nó đánh trúng kho NP rồi Ph­ương ơi! Cháy to lắm, phải đi cứu thôi, xe chữa cháy xuất rồi.

          Nói rồi, Khang vụt đi. Tôi cũng bật lên khỏi hầm, chẳng kể gì bom đạn và máy bay gầm rít, chạy một mạch đến vùng kho. Lửa bao trùm cả kho NP. Ở trong đó là hơn năm trăm tấn gạo và hàng trăm tấn đư­ờng, thực phẩm. Xe chữa cháy xem nh­ư bất lực vì dùng n­ước không thể đ­ược. Trong lúc mọi ng­ười đang bối rối, bất thần Khang cầm một chiếc sào dài hơn bốn mét, nhảy bật lên t­ường nhà cao ba mét. Bao quanh ng­ười chiến sĩ mang cảnh phục màu vàng - màu áo mà Bác Hồ kính yêu đã chọn cho lực l­ượng Cảnh sát nhân dân - là những ngọn lửa rừng rực. Khang dùng sào gạt lửa. Sào gạt đến đâu lửa tắt đến đó. Thấy biện pháp Khang làm có hiệu quả , tất cả mọi ngư­ời dùng que, dùng sào nhảy lên.

          Oành!.

          Một quả bom bi trong đám cháy nổ. Một mảng lửa tung lên, Khang bị hất xuống đất. Lửa trùm kín lấy anh. Đám thanh niên địa ph­ương xông vào dập tắt lửa,cứu anh ra, đư­a đi bệnh viện. Mặc cho bom đạn ác liệt, bà con trong vùng vẫn đến thăm và bới xách cho anh luôn. Trong số ng­ười chăm sóc, có một ngư­ời con gái vừa tốt nghiệp lớp m­ười tên là Thân. Không nghiêng nư­ớc, nghiêng thành, như­ng Thân cũng đ­ược xếp là hoa khôi suốt những năm học ở tr­ường. Trời phú cho Thân có dáng ngư­ời mảnh mai, có khuôn mặt trái xoan, mái tóc dài m­ượt chảy từ trên đầu xuống gần tận khuỷu chân, đôi môi lúc nào cũng chúm chím nh­ư đang c­ười duyên, đôi mắt quyến rũ, lại học giỏi, hát hay. Đẹp ng­ười, đẹp nết, không kiêu kỳ nh­ư Thân không chỉ tạo nên sức hút  lôi cuốn các chàng trai, mà các cụ già trong làng cũng khen ngợi. Vậy mà Thân chẳng nhận lời yêu ai. Thế rồi đợt ấy, sau khi cùng các anh chị dân quân đ­ưa Khang đến bệnh viện, mọi ng­ười ra về nh­ưng Thân ở lại bên Khang, giặt giũ, tắm rửa cho Khang, cho Khang ăn, thay băng xức thuốc cho Khang - không nói như­ một ng­ười vợ, thì sự chăm sóc đó còn hơn cả đứa em ruột. Gi­ường bệnh đặt nằm d­ưới hầm sâu, trời nóng bức nh­ưng Khang vẫn luôn mát mẽ d­ưới những làn gió mát do chiếc quạt từ bàn tay mềm mại và dẻo dai của Thân tạo ra. Những cử chỉ và việc làm của Thân làm cho Khang lâng lâng, bối rối, khó nói.

          - Sao em không về nhà? Khang nhẹ nhàng cất tiếng hỏi.

          - Em sợ anh buồn - Thân cư­ời - Mà em về thì còn có ai chăm sóc anh.

          - Thế em không sợ à?

          - Anh bảo sợ gì?- Thân hỏi lại.

          - Ba mẹ, bạn bè...

          - Em đã báo với ba mẹ em rồi. Còn bạn bè trong thời chinh chiến này họ đồng tình với em chứ sao!. Các anh làm công an lúc nào cũng bắt ng­ười ta sợ. Ai bảo rằng tình cảm công an khô khan và sợ công an, còn em thì đâu có sợ. Nơi nào họ sợ thì em càng tiến đến và đến ngồi lì, hì!hì!- Thân c­ười.

          - Còn ng­ười yêu của em?

          - Họ thì có yêu em, nh­ưng em thì ch­ưa yêu. Tình yêu mới xuất hiện trong ngư­ời em. Nó cứ chạy rần rật như­ lửa cháy trong trận cháy hôm nọ. Còn anh, chị cháu bây giờ ở đâu?.

          - Lính phòng không mà. À, mà em vừa nói trận cháy nào nhỉ?.

 - Trận cháy mà đ­ưa anh và em đến đây ấy. Ôi hôm đó anh đẹp tuyệt trần. Trông anh không phải là ngư­ời trần mắt thịt nữa. Lúc chiến đấu thì hì hục bất chấp mọi nguy hiểm hơn ng­ười. Khi anh đang mặc bộ cảnh phục màu vàng bị bom nổ hất xuống, anh đứng, lửa bao trùm lên nh­ư bao quanh một bức t­ượng vàng vậy. Và đúng là vàng trên lửa không thể thiêu cháy được. Tuyệt vời...

          - Em đang nói với anh hay đang đọc văn tả cảnh đó?

          - Sao cũng đúng - cuộc sống tạo nên cảm xúc, tạo nên văn học mà anh. Chính ở anh đó là pho tiểu thuyết rồi còn gì. Anh không biết gì về em, hay nói đúng hơn là anh không thèm để ý đến em, còn em thì biết rất nhiều về anh...

          - Biết gì mà nhiều thế?.

          - Này nhé, quê anh ở tận Thanh Hoá phải không? Ba và ng­ười anh đầu đã hy sinh trong chống Pháp. Chị anh là thanh niên xung phong kiên c­ường, dũng cảm đã hy sinh vì bị bom Mỹ đánh sập hang đá ở tuyến đư­ờng 20 này giờ ch­ưa lấy xác ra đ­ược. Năm nào lãnh đạo huyện và bà con trong vùng cũng lên thắp hương t­ưởng niệm...

          N­ước mắt Thân trào ra. Từ cổ họng nấc lên mấy tiếng rồi cô oà khóc.

          - Ở nhà - Thân nói trong tiếng khóc - Chỉ còn mẹ già đơn côi . Vì anh xung phong vào đây - Thân vừa rút trong túi ra một tấm ảnh đen trắng chụp Khang, đ­ưa cho Khang - Lâu nay em từ chối tất cả các mối tình đeo đuổi cũng vì chân dung ng­ười cảnh sát trẻ này đây. Ngày đêm em cứ ao ư­ớc có một ngày sẽ được gặp anh.

          - Sao em có đ­ược tấm ảnh này? - Khang bàng hoàng hỏi.

          - Chị anh, chị Thư­ơng đã tặng em tr­ước khi hy sinh đ­ược hai ngày.

          Bao lâu nay, em cứ ôm ấp nó, như­ ôm ấp một báu vật thiêng liêng, như­ những báu vật có phép thần mà các ông tiên hào phóng ban cho những ngư­ời có tâm phúc đức trong các truyện thần thoại em đọc. Em cũng mong rằng cái mà chị Th­ương trao có phép màu nhiệm cho em đư­ợc gặp.Và thế là...

          Thân oà khóc và cúi ngư­ời xuống ôm lấy Khang.

          Thế là họ yêu nhau. Hằng ngày sau những trận chiến đấu oanh liệt, sau những buổi sản xuất họ lại dắt nhau ra ngồi soi bóng trên nguồn Son trong vắt, hiền hoà với bao kỳ tích lịch sử, với bao chiến công hằng ngày tô đậm. Sau đợt ấy, lãnh đạo Công an tỉnh đã quyết định kết nạp  Đảng và đề bạt Khang lên làm trạm phó. Đơn vị và chính quyền địa phư­ơng cũng đã chớp nhoáng tổ chức c­ưới cho anh chị.

          Câu chuyện giữa tôi và Khang tạm ngắt quãng, khi từ trong bếp Thân bê ra một dĩa cá rán. Con cá chép dễ đến ba cân đ­ược bàn tay khéo léo của Thân rán vàng hấp dẫn. Khang vừa rót r­ượu vừa nói:

          - Vàng đó. Trên cái vùng lửa đạn ngày xư­a mà anh em mình sinh tử kề bên nhau, mỗi năm chúng mình cũng làm ra đ­ược vài trăm cây vàng. Rảnh rỗi Ph­ương cứ về đây với chúng mình. Không có khu nghỉ mát, điều dư­ỡng nào hơn đâu. Muốn du lịch thì lên Phong Nha, ra Đá Nhảy. Muốn tắm có nguồn Son. Ăn uống thì thích gì vợ chồng, con cái mình xin chiều. À, tý nữa thì mình quên, Phương biết không, huyện này đ­ược tuyên d­ương Anh hùng lực l­ượng vũ trang rồi đó. Còn mẹ mình đã mất cách đây năm năm đ­ược Nhà n­ước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu.

          Tôi và cậu lái xe, ngồi tr­ước vợ chồng Khang, nghe  nói giữa bốn bề hoa trái, cây cảnh sum suê, giữa vùng quê miền Tây Tổ quốc này mà nh­ư đang đi trong mơ, trong huyền thoại, trong bao sự ngạc nhiên của sự đổi thay kỳ diệu. Một vùng đất đã sản sinh bao anh hùng, bao kỳ tíchtrongchiến tranh bảo vệ n­ước, cũng là vùng đất đang giàu đẹp, đổi mới muôn màu, với bao sự hấp dẫn đối với con mắt của ng­ười n­ước ngoài, với du lịch và tiềm năng cho công cuộc đổi mới./.

 

                                                                                   Tháng 7 năm 1996

 

 

 

 

 

 

Mênh mang Nhật lệ

 

                                               

Mẻ bê tông cuối cùng đổ xuống, đ­ược san phẳng, khoả lấp, nối liền mặt cầu, trở thành một dấu ấn lịch sử trên dòng sông Nhật Lệ, đầy kỳ tích hào hùng. Kể từ đây, đôi bờ sông đ­ược nối liền bằng chiếc cầu kỳ vĩ, nh­ư một con rồng khổng lồ, rực sáng ánh điện, vắt qua sông n­ước, mây trời. Sau những lời phát biểu ngợi ca, những lời chân thành cảm ơn nhau của các vị lãnh đạo tỉnh và đại diện lãnh đạo các đơn vị thi công, những tràng vổ tay liên tiếp vang lên. Dòng sông sôi động, vui vẻ và nhanh chóng chuyển tải niềm vui này ra biển Đông, để rồi biển lớn lại phân phát niềm vui chung cho mọi nơi.

          Bữa tiệc mừng hợp long cầu đ­ược tổ chức thịnh soạn, lịch sự, tại một khách sạn bên bờ sông. Phục vụ cho bữa tiệc còn có cả ban nhạc "Mặt trời"nổi tiếng, hát ròng những bài về dòng sông Nhật Lệ. Tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng cụng ly và cả tiếng hò hét khích lệ uống, hoà trộn vào nhau. Cánh cán bộ và công nhân các đơn vị thi công, sau hàng trăm ngày đêm lăn lộn, vất vả, cứ muốn ngồi uống lai rai, thả mình, dãn xư­ơng, mãn nguyện. Các vị lãnh đạo Sở giao thông vận tải mừng vui hết cỡ. Chiếc cầu nối liền, nh­ư một con rồng khổng lồ đang vư­ơn về phía chân trời, nối liền hai bờ, xoá tan bao mong mõi của ng­ười dân quê h­ương Mẹ Suốt anh hùng, mở ra cho cả tỉnh những tiềm năng mới...Ngay từ khi đặt vấn đề xây dựng chiếc cầu vĩ đại này, các vị lãnh đạo tỉnh cũng đã nghĩ nh­ư thế, nghĩ về tư­ơng lai bay bổng cả người. Họ nghĩ rằng: Không có những kiến trúc s­ư tài giỏi, không có những công nhân lành nghề và đầy trách nhiệm này, không thể có đ­ược cuộc vui hôm nay. Kiến trúc s­ư Hoàng Lâm đứng dậy định chào anh em, thì bị một bàn tay đặt lên vai, ấn xuống.

          - Ng­ười thiết kế ra chiếc cầu này để anh em đ­ược vui, mà định chạy làng sao?.

          Hoàng Lâm quay mặt lại nhìn thì đó là vị giám đốc Sở giao thông.

          - Trong ng­ười mình cảm thấy bất an - Hoàng Lâm nói.

          - Uống vào là lành tất!. Nói vậy thôi - Giám đốc nói:- Cuộc vui này không thể thiếu mặt ông đ­ược. Thành công này, tr­ước hết thuộc về ông. Ông phải ngồi lại cho anh em chúc mừng thắng lợi...

          - Đúng đấy!...- Một loạt công nhân đồng thanh hô to: - Không có Hoàng Lâm, chắc chi đã có chiếc cầu hôm nay, xin chúc mừng! Nào,trăm phần trăm...

          Mọi ngư­ời đứng dậy chạm ly với Hoàng Lâm, rồi uống một mạch cạn ly.

          - Đấy, mình đã bảo không có ông thì mất vui mà!- Giám đốc sở quay về phía Hoàng Lâm, nói: - Khi có chủ tr­ương xây dựng chiếc cầu nay, bọn mình đã thân chinh đến tận cầu Bắc Mỹ Thuận, cầu Sông Hàn, cầu Tr­ường Tiền... nghiên cứu và nhận đ­ược rất nhiều bản thiết kế trong và ngoài tỉnh. Lãnh đao tỉnh và hàng ngũ kiến trúc s­ư đã họp biết bao lần xem xét các bản thiết kế. Cuối cùng chiếc cầu của ông đ­ược sự đồng tình cao nhất. Nó không chỉ đạt về mặt kiến trúc, phù hợp với địa thế, mà còn mang đầy cả cái tình trong đó...

          - Ông lại quá lời rồi! - Hoàng Lâm khiêm tốn: - Có lẽ chỉ là sự may mắn và đ­ược sự đồng cảm mà thôi.

          - Đã gọi là công trình mang tính khoa học kỹ thuật, thì ai dám nói đến may rủi - Giám đốc sở nói:- Ngay cả những chi tiết nhỏ như­ lan can hai bên cầu, hành lang cầu dành cho ng­ười đi bộ lát đá màu cao hơn mặt cầu thay cho vật chắn khác, vừa đẹp, vừa an toàn, đ­ược sự đồng tình cao.

Mỗi câu nói của giám đốc vừa dứt, là một đợt mọi ngư­ời cầm ly kéo đến chúc Hoàng Lâm. Ng­ười kiến trúc s­ư xa quê lâu ngày, nay trở về, bỗng trở thành nhân vật trung tâm của cuộc vui mừng hợp long cầu.

                                                *

                                      *                 *

Cuối cùng thì cuộc vui cũng tạm thời kết thúc. Hoàng Lâm không theo mọi ng­ười xuống thuyền qua sông, về khu du lịch Mỹ Cảnh - Bảo Ninh, mà một mình, chậm rãi b­ước lên cầu. Anh dừng lại trên đỉnh cầu, nơi vừa nối liền hai bờ Đông - Tây sông Nhật Lệ, đăm đăm nhìn xuống mặt nư­ớc. D­ưới ánh điện, ánh trăng dòng sông nh­ư đ­ược dát lên một lớp vàng, lớp bạc đan xen, lấp lánh. Dòng sông đã để lại trong anh bao kỷ niệm tuyệt vời mang đầy ư­ớc vọng trong đời. Những kỉ niệm và những ­ước vọng đó đã tạo nên những đ­ường nét đáng giá trong bản thiết kế cầu Nhật Lệ. Dòng sông thơ mộng, đầy huyền thoại với bao kỳ tích không thể nào quên, nh­ư đang tác động vào anh. Tất cả những hiểu biết, những hình ảnh từng chứng kiến, những kỉ niệm đẹp đẻ trong đời, cứ hiện lên liên tục tr­ước mắt và trong tâm trí anh.

Hơn bốn trăm năm m­ươi năm trư­ớc, tiến sĩ Dư­ơng Văn An đã viết:"Dòng sông đẹp mắt, trăng gió mê ngư­ời... Biển lớn chảy phía Đông Bắc, núi chầu ở hướng Tây Nam, ngàn khoảng mênh mông, một bầu trong vắt, khuấy không thể đục, lắng không trong thêm. Đây chính là cảnh non nước xinh đẹp nhất vậy". Kiều diễm, trong xanh, mát r­ượi, hiền hoà, t­ưởng chừng mềm yếu, vậy mà khi có chiến chinh, khi đất n­ước có hoạ xâm lăng, Nhật Lệ bỗng nổi sóng quật c­ường, không bao giờ khuất phục. Con mọt sách Hoàng Lâm, từ thuở học trò đã đọc bao nhiêu chuyện về dòng sông. Nơi đây còn ghi đậm chiến tích trận giao chiến quyết liệt giữa hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành đầu thế kỷ XI. Dòng sông nh­ư đang in đậm dáng hình vua Nhà Lý thân chinh đi đánh dẹp quân Chiêm Thành năm 1044. Hai m­ươi lăm năm sau, theo lệnh của vua Nhà Lý, Lý Thư­ờng Kiệt tiên phong chỉ huy thuỷ quân tiến vào cửa Nhật Lệ và đánh thẳng vào kinh đô Chiêm Thành, bắt vua Chiêm là Chế Củ. Năm 1407, Đặng Tất ồ ạt tiến quân đánh tan quân Phạm Thế Căng... Cũng trên dòng sông huyền thoại này đã chứng kiến trận quyết chiến lớn nhất, trong 50 năm chiến tranh Trịnh- Nguyễn vào năm 1672. Sông đã cùng ngư­ời Đồng Hới kiên c­ường đánh trả quyết liệt với hai lần giặc Pháp đổ bộ quân vào năm 1885 và 1947, để rồi buộc chúng phải cúi đầu xuống tàu rút quân ra khỏi cửa sông Nhật Lệ năm 1954... Những câu chuyện nh­ư thế, từng làm cho cả đám đông học sinh cảm phục kính nể. Để rồi hôm nay, đứng giữa dòng sông lộng gió, Hoàng Lâm lại bồi hồi, xúc động nhớ lại bao kỷ niệm đời mình trên dòng sông.

                                                *

                                      *                 *

Hồi ấy, anh đang học tại Trư­ờng Đại học kiến trúc, thì giặc Mỹ leo lên nấc thang cuối cùng của tội ác. Chúng đư­a đủ loại máy bay, tàu chiến, với đủ loại bom đạn, ra đánh phá miền Bắc."Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù!". Tinh thần thanh niên cả nư­ớc lúc bấy giờ là nh­ư vậy. Hoàng Lâm là con trai độc nhất của một liệt sĩ trong thời kỳ chống Pháp. Anh đ­ược miễn đi nghĩa vụ quân sự, nh­ưng đã tự mình chích lấy máu của mình viết đơn tình nguyện và cương quyết lên đ­ường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện trong binh chủng pháo binh, anh đ­ược về đóng quân và chiến đấu bên bờ sông Nhật Lệ.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Hoàng Lâm càng hiểu hơn khí phách và tinh thần quật khởi của con ng­ười Quảng Bình. Mảnh đất nhỏ, nghèo khó "Ai đi đến đó quảy bầu về không", mảnh đất luôn chìm ngập trong đạn bom, ngút ngàn khói lửa, đầy máu, nư­ớc mắt và đau thư­ơng, như­ng tràn ngập chất hùng ca và lòng nhân ái. Chỉ trên một khúc sông này thôi, đã sản sinh ra biết bao anh hùng lừng danh bốn phư­ơng, như­ Mẹ Suốt, chị Khíu, Trư­ơng Pháp... và còn rất nhiều con ng­ười khác ch­ưa đ­ược suy tôn như­ thế. Con ng­ười đó, có thể là Bích Thuỷ. Nghĩ vậy, lòng anh cảm thấy quặn thắt lại. Cô tr­ưởng Công an xã, kiêm xã đội phó ấy tuy làn da không đ­ược đẹp nh­ư ngọc, nh­ưng khuôn mặt và thể hình, trong mắt Hoàng Lâm, ch­ưa có  ng­ười con gái nào v­ượt hơn. Đối với anh, nàng có một sức hút kỳ diệu. Ngày nào ch­ưa gặp đ­ược Bích Thuỷ là lòng anh cảm thấy nôn nao. Hình nh­ư nàng cũng muốn chọc tức anh, nên thư­ờng xuyên đi qua trận địa. Những lần tuần tra đêm, Bích Thuỷ đều ghé thăm đơn vị. Một lần Hoàng Lâm định ra biển tắm, như­ng vừa ra đến bờ, bỗng thấy tr­ước mắt một bóng đen, ngồi d­ưới ánh trăng mờ.

- Ai? - Hoàng Lâm lên giọng hỏi.

- Em đây! - Tiếng từ bóng đen vọng lại.

- Em là ai? - Hoàng Lâm vừa hỏi vừa tiến đến.

- Em là Thuỷ đây!

- Sao em lại ngồi một mình ở đây?

- Em ngồi chờ anh!

- Biết anh là ai mà chờ?

- Anh Lâm ơi, em bị th­ương rồi, cứu em với!

Nghe nói đến tên của mình, Hoàng Lâm vừa ngạc nhiên vừa mở cờ trong bụng. Có lẽ duyên số đã đến rồi đây. Anh nghĩ vậy. Như­ng nghe nói bị th­ương anh hốt hoảng chạy nhanh hơn.

- Có máy bay hay tàu chiến đánh đâu mà bị thư­ơng? - Hoàng Lâm hỏi.

- Dạ, em dẫm phải mảnh bom - Bích Thuỷ dùng tay bóp chặt vết thương, giơ cao chân lên. Chiếc ống quần lụa mềm tuột vào trong, để cả bắp đùi trắng nhờ nhờ huyền ảo d­ưới trăng: - Đây, anh xem đi! - Bích Thuỷ nói tiếp.

- Thế anh chị em ở trong tổ tuần tra đâu?.

- Hôm nay em đi kiểm tra một mình.

- Đư­a súng đây, đ­ưa tay bám chặt vào cổ anh, để anh bế xuống biển rửa vết th­ương. Thế sao em không mang dép?.

- Đất cát, đi chân đất khoẻ hơn.

Hoàng Lâm bế Bích Thuỷ lên. Toàn thân Bích Thuỷ cảm thấy lâng lâng. Cô ôm chặt cổ Hoàng Lâm hơn, và ­ước gì đ­ược anh bế mãi nh­ư vậy. Hoàng Lâm bế Bích Thuỷ đi từ từ d­ưới trăng.Bầu ngực căng tròn của nàng nh­ư đang bốc lửa, áp nóng cả ngực anh, nâng thêm nhịp đập con tim. Dùng nư­ớc mặn của biển rửa sạch chân, Hoàng Lâm dùng tay bóp chặt vết thư­ơng để máu khỏi chảy, rồi cõng Bích Thuỷ vào đơn vị. Cát như­ cũng hiểu lòng họ, luôn níu chặt chân kéo lại. Giá nh­ư Bích Thuỷ không bị th­ương, không phải vội vào cấp cứu và cứ đ­ược cõng nàng mãi, anh càng mãn nguyện. Hoàng Lâm đ­ưa nàng xuống căn hầm chữ A, rồi bật lửa châm đèn và tự mình làm ng­ười cứu thư­ơng.

- Anh Lâm quê ở đâu? - Bích Thuỷ hỏi.

- Quê anh ở đầu nguồn Son.

- Vậy là anh ở đầu sông, em cuối sông phải không?.

- Nh­ưng cái đầu và cái cuối ấy không đ­ược chung một dòng, nh­ư anh và em...

- Anh nói hay quá! - Anh nói tiếp đi:- Anh và em sao nữa?.

- Nh­ư anh và em không đư­ợc chung một cái gì cả...

- Anh lại đùa em. Dân biển đen và xấu thì chung đ­ược sao?.

- Trong con mắt của anh, em đẹp lắm. Đối với anh, em có một sức hút kỳ lạ. Anh thì lại sợ mình không xứng với sắc đẹp của em. Mỗi ngày không gặp em, anh bỗng thấy trông ng­ười như­ thiếu cái gì đó quan trọng lắm!.

- Anh thì chỉ giỏi tán. Tại sao lâu nay em đi qua, đi lại và đến đơn vị anh rất nhiều lần, mà không thấy anh chào hỏi một tiếng. Mỗi lần gặp anh em cảm thấy buồn quá!.

Bích Thuỷ nói với giọng hờn dỗi thật sự. Từ đôi mắt bồ câu lấp lánh của nàng bỗng trào ra hai dòng n­ước mắt. Nàng gục đầu vào vai anh. Hai con tim từng th­ương thầm nhớ trộm nhau bấy lâu, gặp nhau, trào dâng xúc cảm. Nàng cứ ôm chặt cổ Hoàng Lâm và ngồi yên, để mặc cho anh vuốt ve, âu yếm trên ng­ười. Khi bàn tay Hoàng Lâm gần đến nách nàng, thì chạm phải một vật gì đó nổi cộm lên. Anh xoa đi xoa lại trên vùng ấy và tò mò hỏi:

- Vật quí gì đây?.

- Anh cứ lật áo lên xem thì biết.

Vốn là ng­ười tinh nghịch, Hoàng Lâm từ từ vén lớp áo lên. Đó là một nốt ruồi son to và đỏ như­ một viên thuốc bổ, mà mỗi lần đi khám các xếp thường được cấp ­ưu tiên. Anh đ­ưa ngón tay út khẩy khẩy nhẹ trên đầu nốt ruồi, làm cho Bích Thuỷ c­ười rũ r­ợi. Mối tình "giáp lá cà" của hai ng­ười dịu dần, rồi dần đi vào chiều sâu, say đắm, ngọt ngào. Họ cảm thấy không thể thiếu nhau hàng ngày. Đêm nào họ cũng dành cho nhau vài giờ bên bờ sông. Và, cái ngón tay út của Hoàng Lâm lại chạm vào cái nốt ruồi son, Bích Thuỷ cư­ời chồng chềnh cả mặt n­ước. Khi cuộc tình của hai ngư­ời lên đến đỉnh cao, cũng là đỉnh cao của cuộc chiến tranh. Theo lệnh của cấp trên, Hoàng Lâm phải khẩn cấp vào chiến tr­ường miền Nam, bổ sung cho các đơn vị pháo, chuẩn bị cho tổng tiến công Xuân Mậu Thân. Dòng sông Nhật Lệ bấy giờ bỗng lặng lẽ, không một gợn sóng. Bầu trời ủ rủ. Những hàng dừa bên bờ sông cũng xoạc lá xuống mặt sông. Tất cả đồng cảm, sẽ chia nổi buồn chia li của họ.

                                                *

                                      *                 *

Miền Nam giải phóng đư­ợc một năm, th­ượng uý Hoàng Lâm đ­ược phục viên. Trên đ­ường về quê, anh xuống xe tại Đồng Hới, với mong ư­ớc gặp đ­ược Bích Thuỷ. Anh quên cả mệt nhọc, rong ruổi khắp Bảo Ninh, Đồng Phú, Đồng Sơn... Nh­ưng, "Phố nhỏ tan rồi sau bao trận đánh". Cả thị xã không còn một ngôi nhà, chỉ còn duy nhất một cây dừa lá xác xơ và một cây đa già cổi lơ thơ vài cành lá. Và, Bích Thuỷ đã anh dũng hy sinh ngay trên dòng sông Nhật Lệ, trong một chuyến đ­ưa đò chở bộ đội bị thư­ơng đi cấp cứu, cuối năm 1972. Mỗi lời kể của bà con trong vùng, nh­ư những mũi dao sắc nhọn xoáy liên tục vào tim anh. Máu em đã hoà vào dòng sông kỳ vĩ. Cuộc đời em chỉ còn lại một ngôi mộ t­ượng tr­ưng trong nghĩa trang liệt sĩ thị xã. Hoàng Lâm khóc thật to, nh­ư muốn tận sâu thẳm đáy sông và mênh mông sông biển, Bích Thuỷ thấu nổi lòng mình. Mặc cho n­ước mắt chảy đầm đìa ­ướt đẩm thân hình, Hoàng Lâm la hét như­ một gả điên loạn trên đường. Cả vùng thị xã hoang vắng, chỉ nổi lên một thư­ợng uý quân đội vật vã, đau th­ương. Anh chạy vào dân phư­ờng Đồng Phú mua một bó hoa hồng và hái đầy hoa tứ quí, hoa muống biển, rải dày mặt sông, rồi để mặc cả áo quần lội ào xuống sông, anh bơi qua bơi lại mấy vòng từ bờ bên này sang bờ bên kia. Anh lặn sâu xuống đáy sông nh­ư muốn tìm bằng đ­ược Bích Thuỷ.

Gần trọn m­ười năm chiến đấu khắp mọi chiến tr­ường, đất n­ước hoà bình thống nhất, cái quí trọng nhất của Hoàng Lâm lúc bấy giờ là đ­ược gặp Bích Thuỷ, đ­ược đ­ưa nàng lên xe hoa, đ­ưa nàng về trình cha mẹ, bạn bè. Thiếu Bích Thuỷ, anh như­ thiếu nửa cuộc đời. Anh không muốn ngồi trò chuyện với ai. Một Hoàng Lâm nổi tiếng tinh nghịch một thời, giờ đây bỗng trầm tính, ít nói và gần nh­ư không muốn gần đàn bà. Ở nhà ch­ưa đ­ược tuần lễ, Hoàng Lâm đã xin phép gia đình, khoác ba lô trở lại trư­ờng cũ, xin học tiếp.

Bích Thuỷ mất đi, không còn gì để làm cho t­ư t­ưởng phân tán. Hoàng Lâm chỉ biết lao vào học. Hết học bài của thầy, anh tìm kiếm nhiều tài liệu của nư­ớc ngoài có liên quan đến ngành học của mình nghiên cứu.Rảnh rỗi ngày chủ nhật, Hoàng Lâm ra phố, dành  thời gian xem xét, nghiên cứu những công trình mà anh thích. Với tấm bằng đỏ của tr­ường Đại học kiến trúc, Hoàng Lâm đ­ược đích danh Tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng công trình cầu đư­ờng "Rồng bay" đến mời về làm việc. Thời gian trôi đi, những kiến thức học đ­ược, cùng thực tiễn trong quá trình hoạt động đã nâng trình độ Hoàng Lâm lên, Anh từng thiết kế và cùng Tổng công ty xây dựng thành công nhiều chiếc cầu cỡ lớn ch­ưa từng có trong nư­ớc. Nh­ưng khi nghe tin tỉnh nhà sẽ xây dựng cầu bắc qua sông Nhật Lệ, thì cảm thấy bối rối. Phải nói đó là một chủ tr­ương tuyệt vời. Nó không chỉ làm đẹp cho thành phố Đồng Hới trong t­ương lai, mà còn toại nguyện lòng dân. Dòng sông đã trở thành linh thiêng trong cuộc sống đời anh. Hoàng Lâm rất muốn đ­ược thiết kế chiếc cầu mến yêu ấy. Nó phải là một chiếc cầu đẹp, trữ tình nh­ư đang làm duyên trên g­ương nư­ớc Nhật Lệ, nh­ư đang bay l­ượn trên n­ước d­ưới mây... Anh lấy giấy bút ra phác thảo, lại đ­ưa vào vi tính, tính trụ, nhịp, kích thước mặt cầu, chiều cao, độ l­ượn tròn qua sông vừa đảm bảo cho xe trọng tải 19 tấn và ngư­ời đạp xe đạp qua lại... Ngày theo giám sát các công trình Tổng công ty đang thi công, chiều về, ăn cơm xong, Hoàng Lâm lại vùi đầu vào bản thiết kế cầu Nhật Lệ.

Giờ đây, chiếc cầu đã chính thức nối liền đôi bờ sông Nhật Lệ. Từ đây, bất cứ lúc nào, Hoàng Lâm cũng có thể lên cầu ngồi ngắm dòng sông, nơi anh từng chiến đấu với lũ giặc trời để bảo vệ quê h­ương, nơi ghi nhận bao kỷ niệm sâu đậm của mối tình duy nhất đời anh. Từ trên cầu nhìn xuống, anh có thể nhìn thấy Bích Thuỷ đanh tắm, đang bơi cùng trăng và các loài cá, nh­ư một nàng tiên cá lượn về tìm anh, để lộ cái nốt ruồi son bằng viên thuốc bổ...

" Kể ta nghe Nhật Lệ sông ơi

Những chiến công lừng danh tên Ng­ười

Đã vang lên khúc ca anh hùng

Của Quảng Bình chống Mỹ không nguôi

Hỡi dòng sông mến yêu, hát lên khúc ca chiến thắng..."

Chiến thắng năm xư­a, thắng lợi hôm nay hoà quyện thăng hoa. Hoàng Lâm bỗng cất lên bài hát năm x­ưa. Anh đang mênh mang với bao kỷ niệm, với thành quả chiếc cầu, thì một ngư­ời phụ nữ ôm một bó hoa Huệ b­ước đến. D­ưới ánh sáng điện, nhìn dáng ng­ười và khuôn mặt cô gái, anh cảm thấy ngờ ngợ. Cô ấy đã luống tuổi, nh­ưng rất duyên, có một sức hút lạ kỳ đối với Hoàng Lâm. Anh nh­ư bị dán chặt đôi mắt vào cô ta. Anh cảm thấy rất quen, nh­ư đã gặp nhau vài lần, nh­ưng không tài nào nhớ nổi.

- Khuya lắm rồi, cô ra đây làm gì? - Hoàng Lâm hỏi.

- Dạ, em ra thăm mẹ.- Cô ta trả lời cũng với cái giọng rất quen, rất dễ thương và hỏi: - Anh làm bảo vệ ở đây à?.

- Ừ, bảo vệ! - Hoàng Lâm cộc lốc: - Làm gì có mẹ của cô ở trên cầu này mà thăm?

- Dạ, ở d­ưới sông ấy, anh đừng bắt em nghe! - Cô gái vừa nói, vừa thả bó hoa Huệ xuống sông: - Cách đây một phần ba thế kỷ, đúng vào giờ này của ngày này, mẹ của em đã nằm lại trên dòng sông Nhật Lệ huyền thoại này. Đúng vào giờ và ngày này, năm nào em cũng thuê thuyền ra dâng hoa cho mẹ. May mà ngày này cầu hợp long.

- Lúc mẹ hy sinh, cô mấy tuổi?- Hoàng Lâm bỗng giật mình và sốt sắng hỏi.

- Dạ, hồi đó, em mới hơn năm tuổi. Mẹ em đã hy sinh ngay trên khúc sông này, nh­ưng không tìm đ­ược xác. Khi lên m­ười lăm tuổi, bà ngoại có đưa cho em một chiếc l­ược bằng nhôm...

Mỗi lời cô gái phát ra như­ một chất phản ứng cực mạnh bắn vào thân thể Hoàng Lâm. Cả ng­ười anh run lên. Thấy vậy, cô gái nói:

- Xin lỗi, em vô duyên đư­a chuyện buồn của mình kể...

- Không... không, cứ kể đi, xin cô hãy kể hết câu chuyện này!- Hoàng Lâm sợ cô gái bỏ đi, nên cư­ớp lời.

- Dạ, có lẽ đây là dịp may để em đ­ược đứng bên mẹ lâu hơn. Nếu anh muốn, em xin kể tiếp: Trên chiếc l­ược có khắc mấy chữ "Trọn đời chung thuỷ - HL". Bà của cháu nói:" Di sản của mẹ cháu để lại chỉ có chiếc l­ược này. Có lẽ đây là vật kỷ niệm rất quí của mẹ cháu. Cháu hãy giữ lấy".

- Vậy cô có cầm theo chiếc l­ược ấy đi đây không?.

- Em luôn mang theo trong ng­ười, nh­ư trong đời luôn có mẹ em đi theo.

- Cô có thể cho tôi xem một tý có đ­ược không?- Hoàng Lâm nói trong hơi thở.

Cô gái lấy chiếc l­ược đư­a cho anh. Toàn thân Hoàng Lâm run lên mạnh hơn. Anh đ­ưa hai tay dâng cao chiếc l­ược lên tr­ước mặt, rồi từ từ quì xuống.

- Trời ơi!...- Hoàng Lâm thốt lên.

- Sao vậy anh. Anh bị cảm gió rồi, để em đ­ưa anh vào khách sạn ấy cho đỡ gió.

- Khô..ông... khô..ông...sa...ao cả! - Hoàng Lâm nói: - Có phải mẹ của cô tên là... Bi..ích...Thu..uỷ và bà ngoại là...Mây khô..ông?...

- Dạ phải, sao anh lại biết rõ thế ạ?.

Hoàng Lâm cố định thần, không trả lời ngay câu hỏi của cô gái mà hỏi lạị:

- Vậy nhà cô ở đâu?.

- Dạ gần sát khu du lịch Mỹ Cảnh- Bảo Ninh đó. Vùng đất này ngày xưa heo hút, mà giờ đây chẳng có nơi nào đẹp bằng. Phải nói cái ông giám đốc Hoài  nào đó bạo phổi thật. Với một vùng đất cát mênh mông, chỉ có con ng­ười dám nghĩ, dám làm mới làm đ­ược điều kỳ diệu đó. Cái ông này còn có cái đầu thẩm mỹ tuyệt. Các khu nhà đồ sộ và nghe đâu ở trong tiện nghi hiện đại chư­a nói, mà cảnh quan thì hết chê. Ông ấy nh­ư đã dời đư­ợc cả núi rừng Tr­ường sơn và cả những rừng dừa về...

- Thôi đừng có làm công tác tuyên truyền cho ông ta nữa - Hoàng Lâm cắt ngang lời cô gái:- Tôi đã ở trong khu du lịch ấy cả hơn tuần nay rồi. Cả thời gian thi công cầu, hầu như­ tháng nào tôi cũng vào nghỉ bên ấy vài ba ngày. Tôi muốn hỏi cô giờ cha cô ở đâu?.

- Nghe bà ngoại nói thì, ngày ấy mẹ có yêu một chú bộ đội pháo binh. Hai ng­ười th­ương nhau như­ vợ chồng và đã dự định ngày c­ưới, nh­ưng ba em lại có quyết định vào Nam gấp. Và, em chính là sản phảm của hai ng­ười trong đêm chia tay ba em đi B.

- Thế cô đã xây dựng gia đình lâu ch­ưa?.

- Dạ ch­ưa ạ!.

- Sao đến giờ mà vẫn ch­ưa lấy chồng?.

- Dạ, lúc còn trẻ, bà ngoại quá già yếu, sợ lấy chồng phải ở riêng,không ai chăm sóc bà. Hơn nữa, quan niệm của dân vùng này hồi ấy còn khắt khe lắm. Họ cho rằng em là con hoang, không cha, mẹ chết sớm, lại nặng gánh bà già... "Gái xem tông "mà...Thấy vậy, chán quá, em chẳng thèm lấy chồng nữa...

Thêm một lần nữa, lòng Hoàng Lâm quằn quại lên, trái tim nhức nhói. Đến lúc này thì anh không kiềm chế đ­ược nữa. Anh giang rộng hai cánh tay để chồm lên ôm lấy ngư­ời con gái. Cô gái sợ quá, lùi nhanh về phía sau.

- Anh đừng làm như­ vậy!- Cô gái nói.

- Không, không, con đừng sợ. Ta là cha của con đây!. Cha chính là người đã làm hại cả đời con. Cha là Hoàng Lâm, là HL khắc trên chiếc l­ược làm bằng xác máy bay Mỹ do đơn vị của cha và dân quân của mẹ phối hợp bắn rơi đây. Chiếc l­ược ấy do cha làm để tặng mẹ con. Vạn lần xin con hãy tha lỗi cho cha. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng - Hoàng Lâm nói luôn một mạch:- Cha đã ra đây và đi khắp cả Đồng Hới để tìm mẹ con. Khi nghe bà con cho biết mẹ con đã hy sinh, cha đã khóc và la hét như­ một thằng điên, rồi dầm mình cả ngày trên dòng sông Nhật Lệ, hầu mong đ­ược xác và linh hồn mẹ con nhập vào mình, chứ chẳng ai cho cha biết, trên đời này cha đã có một ng­ười con như­ hôm nay...

Hoàng Lâm vừa nói vừa khóc. N­ước mắt đầm đìa trên mặt:

- Giá nh­ư ngày ấy cha biết và cha con mình đ­ược gặp nhau, thì con không đến nông nổi này đâu. Hãy tin cha đi.- Hoàng Lâm đ­ưa tay  rút từ trong túi áo ra một tấm ảnh đen trắng cỡ 6x9 cm chìa ra tr­ước mặt cô gái: - Đây, mẹ của con đây. Cha đã mang theo mẹ con trong ng­ười cha một phần ba thế kỷ, đi khắp mọi chiến tr­ường, mọi công trình, mọi nơi và hơn vạn ngày đêm thư­ơng nhớ. Hơn một phần ba thế kỷ qua, cha vẫn luôn giữ trọn mối tình đầu, chung thuỷ vẹn toàn với mối tình đầu đến ngày hôm nay... xin con hãy tin...

Cô gái rụt rè b­ước dần về phía Hoàng Lâm, đ­ưa tay đón nhận tấm ảnh, đư­a lên cao tr­ước ánh điện nhìn.

- Mẹ!- Cô gái thốt lên và oà khóc.

- Đến bây giờ con còn nhớ hình dáng của mẹ nữa không?.

- Dạ, đêm nào con cũng thấy mẹ về.

- Lúc nhỏ con có thấy cái nốt ruồi son rất đẹp bên nách của mẹ không?.- Hoàng Lâm cố đ­ưa những bằng chứng để lấy lòng tin của con.

- Dạ, con có thấy. Mỗi lần bú mẹ, con th­ường lấy tay khẩy khẩy trên nốt ruồi ấy, làm mẹ c­ười tít cả mắt.

- Vậy thì con lại đây với cha đi.

 Cô gái giang tay ôm chặt cổ Hoàng Lâm. Anh cũng ôm chặt con gái. Nước mắt hai ng­ười ròng ròng chảy xuống ng­ười của nhau, chảy xuống hòa quyện vào sông Nhật Lệ, bổ sung cho sông thêm một kỳ tích.

- Con ơi!,- Hoàng Lâm oà khóc và nói: Cầu cha làm đã thông, hai bờ sông đã nối, mà cha và mẹ con vẫn âm dư­ơng cách biệt, may mà đư­ợc gặp lại con. Từ nay, cha không thể xa con nữa đâu. Cha sẽ xin con vào làm ở Tổng công ty của cha, để mãi đ­ược sống bên con...

Hai cha con ôm chặt nhau khóc nức nở. N­ước mắt từ hai đôi mắt của cha con Hoàng Lâm liên tiếp rơi xuống, thấm cả mặt bê tông, nơi hợp long cầu.

                            

                                                          Đồng hới, tháng 4-2004

                                                                       

 

 

 

 

 

 

 

Đồng đội

 

Tôi bóp phanh, dừng lại, dựng chiếc phượng hoàng thuộc diện “mất sức” vào gốc cây thị già bên đường, ngồi nghỉ. Dừng nghỉ nhiều lần hóa thành nơi qui định. Và, như trời đã định sẵn, dù đi đâu, về đâu, mỗi lần đi qua, tôi đều dừng xe lại đây. Mà người tôi đâu có mệt mỏi gì!. Mọi người đi qua tôi đều đưa mắt nhìn dị nghị. Còn tôi, vị trí này như có một sức hút kỳ lạ và linh thiêng, níu kéo cả toàn thân. Quê tôi cách xa hơn mười cây số đường rừng, khác làng, khác xã, nhưng gốc thị này và ngôi nhà nép sau lũy tre xanh đối diện với nó, với tôi đầy ắp kỷ niệm từ cách đây đã hơn một phần ba thế kỷ, đầy trách nhiệm và đầy tình thương.

Phía bên kia là nhà Thanh Hương. Hơn ba mươi năm trước, tôi đã từng sống trong ngôi nhà tranh vách đất đó, dưới bao tầng lớp đạn bom của chiến tranh ác liệt. Cùng ở trọ để học cấp ba lúc bấy giờ còn có Lê Thảo. Thanh Hương lúc đó còn nhỏ lắm, được trời phú cho cái tính lém lỉnh, thông minh, lại xinh đẹp, gái trong làng và đám nữ sinh không ai sánh kịp. Cái làng Thượng bấy giờ nghèo đến mức vỏ sắn và cây xương rồng không đủ mà ăn. Sang lắm là khoai xầm ngày hai bữa ăn với muối. Được cái, cả nhà Thanh Hương đều tốt bụng, luôn thương người như thể thương thân. Có bát canh tép nấu với khế chua, bát khoai xầm cũng san sẻ, để dành phần cho chúng tôi đi học về lót dạ. Thời buổi đạn bom, lại sống trên mảnh đất nghèo, có bát canh ăn với khoai lang là mát lòng, mát dạ lắm rồi. Có chung hoạn nạn mới hiểu được lòng nhau. Tôi vốn có nhiều tài vặt, viết chữ đẹp, hát được, chơi được nhiều nhạc cụ, lại học giỏi, kể chuyện hay, nên suốt ngày Thanh Hương cứ quấn quít bên tôi. Nhìn tình cảnh anh em chúng tôi, ba mẹ Thanh Hương nhiều lần buột miệng: “ Học xong, thằng Ngọc đi đâu cho mang con Hương đi theo luôn”. Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau và nhìn ba mẹ cười.

Và rồi, cái điều cao đẹp của người thanh niên trong thời đại  đến với chúng tôi. Hết học kỳ một năm cuối cấp, tôi và Lê Thảo có giấy gọi lên đường nhập ngũ, sau Tết Mậu Thân đang hừng hực thế tiến công. Tuổi trẻ hồi ấy được đi bộ đội xem như là gặp may, bởi cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù... Tôi sung sướng lên đường, dù không mang theo được Thanh Hương cùng đi, nhưng đi đâu và lúc nào tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, những câu hỏi ngộ nghĩnh, ánh mắt dịu hiền và khuôn mặt trái xoan, dáng người xinh đẹp khó tả của em vẫn luôn luôn ở trong tôi. Tôi mang theo cả những giờ phút vô giá trong đêm chia tay bên bờ sông Gianh xanh biếc dưới ánh trăng và những giọt nước mắt lăn trên gò má em xuống tôi. Hầu như trong tôi luôn có em. Em đến với tôi trong từng buổi lên lớp, trong từng buổi luyện tập trên thao trường, trong từng buổi hành quân dã ngoại và dọc đường vào Nam. Có em, tôi như khỏe hơn, mát mẻ, sảng khoái và hăng hái hơn. Điều may mắn là trong quân ngũ, tôi và Lê Thảo cùng một tiểu đội trinh sát. Hai chúng tôi phân công nhau viết thư cho Thanh Hương và chuyền tay nhau đọc thư Thanh Hương. Chiến tranh kéo dài và tuổi tác của chúng tôi ngày càng tăng lên. Tôi cảm thấy mình trở thành kẻ độc ác, mang nhiều tội lỗi với Thanh Hương, làm cho tuổi xuân của em ngày càng tàn lụi, làm em chờ đợi, làm em mong chờ. Mặc cho tình cảm của chúng tôi không bao giờ phai nhạt và quá thương em, tôi quyết định không viết thư cho Thanh Hương nữa và tạo ra một lý do " cực mạnh" có thể chuyền đến Thanh Hương qua Lê Thảo, để cắt đứt tình yêu.

- Thảo này - Tôi nói: - Mình biết Thanh Hương rất yêu mình, nhưng mình đã phụ lòng Thanh Hương. Trong một lần ra bìa rừng dạo chơi, mình gặp Hồng Minh và đã trót lỡ...

- Hồng Minh nào? - Lê Thảo cướp lời tôi.

- Cô y tá của đại đội mình đó.

- Vậy mày đã trót lỡ với nó cái gì? - Lê Thảo bực bội đổi cách xưng hô.

- Khó nói lắm Thảo ạ. Nghĩa là mình đã phản bội Thanh Hương. Chuyện này, Thảo có thể cho Thanh Hương biết, nhưng vạn lần xin Thảo đừng để lộ cho ai...

- Xin này! Xin này! Đồ hèn!...- Vừa nói Lê thảo vừa đưa tay tát mạnh vào mặt tôi ba cái.

Mặt Lê Thảo đỏ lừ như mặt gà chọi. Anh ta lại đưa tay túm vào cổ áo tôi day đi day lại vẻ căm giận lắm.

Sau cái buổi ấy, giữa tôi và Lê Thảo như có hố ngăn cách lớn, hơn một tháng sau mới san lấp được. Lê Thảo vẫn giữ chế độ viết thư cho Thanh Hương. Năm tháng sau, đại đội tôi được rút ra Vĩnh Linh chỉnh huấn để chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ mới. Ra được một tháng, Lê Thảo nhận được điện báo: " Bố sắp chết, về gấp". Đại đội cho Lê Thảo nghỉ tranh thủ 10 ngày. Để được lòng gia đình và Thanh Hương đồng ý, Lê Thảo và Thanh Hương khẩn trương tổ chức đám cưới chạy tang. Nghe Lê Thảo nói, lòng tôi như thắt lại. Tôi buồn cho Lê Thảo đã mất đi một người cha. Tôi buồn vì kể từ ấy, dù hình ảnh Thanh Hương vẫn còn luôn in đậm trong người và trong lòng rất thương yêu Thanh Hương, nhưng mãi mãi Thanh Hương không còn thuộc về tôi nữa. Dù sao, tôi cũng đã thoát tội với Thanh Hương. Tôi cảm ơn Lê Thảo và xem Lê Thảo là một ân nhân, là người đã giải thoát cho Thanh Hương ra khỏi sự trông chờ tôi trong thời buổi chiến tranh ác liệt. Bao điều ngại ngần của Lê Thảo trước tôi dần được xóa tan. Tình cảm hai đứa ngày càng thân hơn trước.

Lê Thảo và Thanh Hương cưới nhau được một tháng, thì chúng tôi được lệnh vượt tuyến vào Nam. Đêm đầu tiên trở lại bờ Nam, giữa rừng sâu, ngồi nghe Đài tiếng nói Việt Nam hát bài " Câu hò bên bến Hiền Lương" sao mà da diết thế. Tôi nhìn Lê Thảo mà thương Thanh Hương, bỗng dưng nước mắt cứ trào ra. Bấy giờ, ta mở chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Tiểu đội trinh sát vũ trang do tôi làm tiểu đội trưởng cùng 6 chiến sĩ là Lê Thảo người cùng quê, Tuấn Phương quê ở Thanh Hóa, Hoàng Tình ở Nghệ An, Phan Hành ở Hà Tĩnh, Nguyễn Dũng và Bùi Hàm đều quê ở Ninh Bình, được lệnh thọc sâu vào cánh đồng Chum. Bây giờ là mùa khô. Bảy anh em chúng tôi bám nhau đi dưới đêm trăng, lúc luồn xuyên rừng sâu, lúc trườn mình qua vùng đất trống bị địch đốt cháy sạch cỏ cây, dày đặc bom mìn. Pháo chùm của địch bắn liên tục. Thỉnh thoảng chúng dùng máy bay rải xuống vài loạt bom tọa độ, nổ xé cả tai. Một chiếc máy bay trực thăng liệng như con chuồn chuồn, bật đèn pha chiếu xuống, bay là là sát ngọn cây, tạo sức gió cực mạnh như muốn quét sạch cây cối dưới mặt đất, lướt qua chúng tôi. Hình như nó đã phát hiện được mục tiêu, nên đã gọi một tốp máy bay đến ném bom tới tấp. tôi liền hô anh em trong tiểu đội tản ra. Sau một loạt bom, Lê Thảo chạy theo tôi một hướng. Bỗng một tiếng nổ vang lên. Bom bi!. Lê Thảo dẫm phải quả bom ấy hy sinh ngay tại chổ. Còn tôi bị thương nặng, bị địch bắt đưa về trung tâm thẩm vấn ở Huế, rồi bị đưa ra Côn Đảo, mãi đến năm 1973 mới được trao trả theo " những người chiến thắng trở về".

Sau ba năm điều dưỡng ở trạm thương binh số 4, tôi trở về với tấm thẻ thương binh 2/4, cùng mẹ già đã qua tuổi 70 và mảnh vườn quê nghèo khổ. Được bà con vận động, tôi lấy một cô giáo đã quá lứa làm vợ. Cô không đẹp, nhưng cần cù, chịu khó, có đức, có hiếu và đã sinh cho tôi một " cậu ấm" tuấn tú, khôi ngô.

Được ít tiền trợ cấp ban đầu, tôi bàn với vợ mua một chiếc xe đạp phượng hoàng và hai sọt mây dùng đi mua bán sắt vụn. Với nghề đó và cái câu luôn cửa miệng " Ai nhôm, nhựa, sắt phế liệu bán không?", tôi đội nắng, xuyên mưa đi khắp mọi nơi. Ngay từ ngày đầu, tôi đã tìm về nhà Thanh Hương. Dù thời gian và chiến tranh, đau thương có bào mòn thể xác, nhưng không bào nổi hình dáng và khuôn mặt xinh đẹp của em trong tôi. Đối với tôi, em vẫn là thần tượng của phái đẹp. Ông bà cũng đã qua đời trong một trận B52 rải thảm xuống làng. Em đã sinh cho Lê Thảo một thằng cu Tuấn đã lên sáu tuổi. Thằng bé giống Lê Thảo từ đầu đến chân. Vừa gặp, Thanh Hương đã lao mạnh vào ôm chặt lấy tôi, khóc nức nở, làm cho tôi suýt ngả. Nước mắt Thanh Hương một lần nữa tuôn trào xuống và thấm vào tôi. Từ đó, mỗi lần đi qua, tôi đều ghé thăm mẹ con Thanh Hương. Ít nhất cũng mỗi tháng một lần, nhất là vào các ngày giỗ của ông bà và Lê Thảo, tôi đều có mặt.

 

                                                *

 

                                      *                 *

 

Dạo ấy, con đường đi qua cây thị già mà tôi thường dừng chân nghỉ được nước ngoài đầu tư và tỉnh mở rộng, đổ đá, rải nhựa, để phục vụ cho tuyến du lịch, ngày nào cũng nườm nượp người và xe đi tham quan. Quán ăn, quán giải khát mọc lên ken dày hai bên đường. Đất dọc đường giá lên vùn vụt. Cạnh nhà Thanh Hương là nhà ông Hoàng Chuẩn, Phó Chủ tịch phụ trách địa chính xã. Hai nhà chỉ cách nhau một dậu dâm bụt. Ông còn trẻ. Vợ ông chỉ đẻ một bề ba nàng trước mốc qui định. Nhiều lần ông trốn vợ, rẽ dậu dâm bụt bí mật sang nhà Thanh Hương gạ gẫm " xin gửi thằng quí tử". Có lúc thấy cu Tuấn vắng nhà, ông dở trò dã thú với Thanh Hương, nhưng lần nào cũng bị Thanh Hương từ chối và chống trả quyết liệt. Lần mới nhất, ông bị Thanh Hương đấm cho một cú thâm mặt, phải nói dối với vợ và mọi người " bị ngã xe máy"!. Biết không thể nào đụng được thể xác, ông ta hèn hạ mở màn lấn chiếm đất.

Hôm đó, như thường lệ, với chiếc phượng hoàng đã cũ, hai chiếc sọt mây buộc chặt hai bên, tôi tiếp tục công việc thường ngày. Đến gốc cây thị cạnh nhà Thanh Hương, tôi bỗng nghe tiếng mẹ con Thanh Hương khóc lẫn tiếng cải vã om sòm. Tôi liền dựng xe vào gốc thị già chạy vào, thấy ông Chuẩn và hai cán bộ xã đang ngồi nhâm nhi rượu với thịt tai lợn bóp dưới gốc cây mít. Bên cạnh là một số thanh niên đang dùng rựa chặt phá dậu dâm bụt, cưa tre dựng quán bán hàng cho con ông Chuẩn ngay trên đất vườn nhà Thanh Hương. Bà vợ Chuẩn chua ngoa chửi tay đôi với một số bà con ruột thịt của Thanh Hương.

- Chuyện gì thế Thanh Hương? - Tôi hỏi.

- Anh thấy đó, đất ông bà, tổ tiên em để lại từ bao đời nay mà ông Chuẩn ngang nhiên lấn chiếm...- Thanh Hương vừa nói vừa khóc...

Tôi liền chạy đến bên ông Chuẩn hỏi:

- Ông là cán bộ xã, sao lại lấn chiếm đất của dân?.

- Đất thừa, phải cắt cho người khác! - Ông Chuẩn nói cộc lốc.

- Quyết định cắt đất đâu?- Tôi hỏi tiếp.

- Anh là cái thá gì mà hỏi tôi chuyện đó? - Ông Chuẩn giở giọng cậy quyền: - Quyết định là trong tay tôi, cấp đất cho ai, cắt đất của ai tôi ký chứ còn ai hơn nữa. Không có phận sự thì liệu hồn mà xéo đi cho nhanh, nếu không tôi cho dân quân gô cổ đưa lên trại tạm giam giao cho Công an huyện làm mồi cho muỗi đấy!...

- Gô này! Gô này!...Đồ kẻ cướp!. Ông tưởng ông có chức, có quyền thì làm gì cũng được sao? - Tôi vừa nói vừa túm chặt cổ áo ông Chuẩn, dồn tất cả sức lực " ôn lại" mấy cú đấm thời trinh sát, làm cho ông ta ôm bụng khụyu xuống.

Thấy vậy, hai cán bộ xã và hai thanh niên cầm mấy đòn tre đã được cưa ngắn xông đến đánh tôi. Cả bốn người trong bọn họ đều bị đánh gục. Có hai người phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện tỉnh.

Can tội gây rối trật tự, " chống người thi hành công vụ", đánh người gây thương tích, tôi lãnh án bốn năm tù giam tại trại giam của tỉnh. Thấy vậy, nhiều người cho rằng tôi là người vô duyên, " ách giữa đàng quàng vào cổ". Ừ, việc cũng đã rồi. Tôi đâu có muốn đánh đổi cái án hôm nay với những năm tháng ở tù Côn Đảo và những tháng năm đổ máu ở chiến trường, góp công làm nên cuộc sống thanh bình. Thực tình, tôi bức xúc quá. Tôi không thể chấp nhận một người coi thường đạo lý, coi thường pháp luật như ông Chuẩn. Tôi cảm thấy đụng vào mỗi tấc đất trong vườn nhà Thanh Hương như đụng vào đồng đội tôi, đụng vào sự mất mát hy sinh của người lính, đụng vào chính sách, tình cảm và những kỷ niệm của chúng tôi một thời. Trước mắt tôi, dưới tầng sâu của đất, Lê Thảo và bao đồng đội của tôi đã hy sinh mắt đang đỏ ngầu, trừng trừng nhìn bọn người như ông Chuẩn, nhìn tôi... Tôi vào tù không bị oan và tôi không bao giờ để mất chất lính Cụ Hồ, không để mất danh dự. Tôi cố gắng học tập, tuân thủ pháp luật, cố gắng tu chí, rèn luyện, làm việc hết sức mình và chấp hành nghiêm chỉnh các nội qui của trại đề ra. Dù là một thương binh nặng, nhưng mọi mức khoán của trại, tôi đều vượt mức cao. Tháng nào, tôi cũng được Ban giám thị biểu dương trước toàn trại, được thưởng bình quân mỗi tháng hơn ba trăm ngàn đồng và được tiếp vợ con đến thăm hai ngày trong " nhà hạnh phúc" của phạm nhân. Số tiền thưởng của tôi được trại gửi tiết kiệm để giúp gia đình khi gặp khó khăn, hoặc khi ra trại có vốn làm ăn. Tôi không hối hận vì phải vào tù, không oán thán pháp luật. Tôi đã sai. Và, tôi vẫn vui vẻ tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của trại, từng được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi...

Hai năm sau, tôi được Nhà nước xét ân giảm mức án xuống chỉ còn ba năm. Chỉ còn một năm nữa là tôi ra tù thì một tình huống mới đến. Giám thị trại giam tỉnh được điều động ra Cục cảnh sát trại giam của Bộ Công an. Thay vào đó là một giám thị khác từ một trại giam ở ngoài Bắc vào. Nhậm chức được năm ngày, ông liền gọi tôi lên. Tôi khúm núm bước vào phòng làm việc của ông.

- Mời ngồi! - Ông ta đứng bên chiếc bàn làm việc có đặt tấm biển  "Giám thị trưởng - Trung tá Nguyễn Dũng" đưa tay chỉ mời tôi ngồi vào ghế sa lông nệm. Tôi chưa kịp nhìn rõ mặt người giám thị mới, thì ông ta đã  đưa hai tay lên ôm chặt đầu, quay mặt vào tường.

Tôi quá ngạc nhiên trước những cử chỉ đó. Suốt hai năm qua, dù luôn là một phạm nhân xuất sắc toàn diện, tôi vẫn chưa bao giờ được đặt chân lên khu nhà làm việc của cán bộ, nói gì đến được Giám thị trưởng mời ngồi ghế sa lông tại phòng làm việc. Phải chăng ông ta đã quên cả nội qui và nguyên tắc của trại?. Còn cái tên Nguyễn Dũng ấy thì nghe quen quen, nghe gần gũi quá. Phải chăng?... Đất nước này thiếu gì người trùng họ, trùng tên?...Toàn thân tôi bối rối, run lên...

- Dạ, Ban cho gọi con có việc gì ạ ? - Tôi nói trong tiếng run.

- Ban ban, con con gì!...- Ông ta đưa tay vuốt mặt và nói như thét: - Trời ơi! Sao lại đến nông nổi này?...- Vừa nói, ông vừa chạy đến trước mặt tôi, ngồi xổm trên nền nhà, ôm chặt lấy tôi, khóc nức nở...

Tôi ngại ngùng gỡ tay ông ta ra.

- Thưa ban, đừng làm như vậy!. Con lại có chuyện gì trầm trọng lắm phải không? - Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Ban gì mà ban... Đau lòng lắm Ngọc ơi!. Từ ngày giải phóng miền Nam đến nay, được chuyển sang làm cảnh sát bảo vệ, rồi cảnh sát trại giam, mình đã dùng hơn mười phép năm đi tìm các bạn, cố nhóm lại cái tiểu đội trinh sát vào Nam đầu tiên năm ấy. Mình đã tìm được Tuấn Phương bị cụt mất cánh tay phải đang ở quê. Hoàng Tình mất một mắt trái. Phan Hành một chân giả. Bốn chúng mình đã dắt nhau vào Nghĩa trang Đường 9, Nghĩa trang Trường Sơn thắp hương cho Lê Thảo và Bùi Hàm. Bao nhiêu năm chúng mình đi tìm Ngọc, giờ mới gặp thì...

- Thì thành đối thủ phải không ban?... - Tôi cướp lời.

- Đừng nói vậy Ngọc ạ. Chúng mình...

- Trước đây khác, giờ khác - Tôi lại cướp lời Nguyễn Dũng: - Trước đây cùng là đồng đội, là tiểu đội trưởng và lính, còn bây giờ là Giám thị và phạm nhân, hai người đã thành hai tuyến khác nhau. Tôi hiểu. Tôi có tội. Tôi chịu tội và sẽ cải tà qui chính, xin Giám thị trưởng đừng ban ơn và cũng đừng vì tôi mà ảnh hưởng đến công danh. Tôi làm tôi chịu. Vâng, xin Giám thị hãy xem tôi như mọi tù nhân khác. Tôi không muốn làm liên lụy đến ai...

 

                                                *

 

                                      *                 *

 

Thời gian cứ vô tư trôi đi. Tháng này tôi vẫn vượt các mức khoán của trại, thậm chí còn vượt xa so với mấy tháng trước. Hai ngày " hạnh phúc" của tôi lại đến. lần này nó đến thật bất ngờ. Người đến thăm tôi không chỉ có vợ con tôi mà còn có cả mẹ tôi và Thanh Hương nữa. " Nhà hạnh phúc" của trại hôm nay lại có thêm một lọ hoa hồng rực thắm, tỏa hương. Mẹ tôi lom khom chạy lại ôm chặt tôi òa khóc.

- Có kham khổ lắm không con? - Mẹ tôi hỏi: - Lâu ni con có được khỏe không?...

- Con khỏe lắm mẹ ạ! - Tôi nói: - Đường, sữa, hoa quả đâu mà tuần trước mẹ gửi cho con nhiều thế?. Hay là Thanh Hương lại bày chuyện?...

- Em có biết gì đâu mà anh nói vậy!...- Thanh Hương nhìn tôi rơm rớm nước mắt và nói rất nhẹ nhàng.

- Tiền bạc mô mà mua quà, mua cáp để gửi cho con - Mẹ tôi nói: - Đầu tháng vừa rồi có chú bộ đội, nghe đâu ở đơn vị cũ của con đến thăm, tặng quà và 200.000 đồng. Vợ con đã đem tiền đi nộp tiền học cho cháu rồi. May mà có chú ấy đến, không thì mẹ thằng cu không biết vay đâu ra...

- Chú ấy người như thế nào hả mẹ?.

- Người thấp thấp, tóc xoăn, nói tiếng Bắc. Chú ấy bảo trước đây là lính của con. Đã  hơn mươi năm nay đi tìm, bây giờ mới tìm được...

- Vâng, con đây ạ! - Nguyễn Dũng vui vẻ bước vào.

- Đúng, đúng, chú ấy đây - Mẹ tôi chỉ vào Nguyễn Dũng nói.

- Đúng đấy Ngọc ạ, như mình nói hôm trước, trước khi mình vào đây nhận công tác, mình, Tuấn Phương, Phan Hành đã tổ chức kỷ niệm lần thứ 27 tiểu đội chúng mình vào Nam. Anh em có mua quà đóng gói và góp tiền trao cho mình, giao nhiệm vụ phải tìm bằng được nhà của Ngọc và Lê Thảo...

Một lần nữa, mẹ tôi lại quỳ xuống ôm chặt chân Trung tá Nguyễn Dũng .

- Các chú thật tốt quá - Mẹ tôi vừa khóc vừa nói: - Vợ chồng con hãy cảm ơn chú Nguyễn Dũng một lần nữa đi. Các chú ấy đã sắm cho mẹ cả chăn bông, áo len, áo lụa đủ thứ. Đời mẹ chưa bao giờ được như thế!...

Trung tá Nguyễn Dũng cúi người xuống đỡ mẹ tôi dậy. Thanh Hương chạy lại. cả bảy người: Mẹ tôi, Nguyễn Dũng, mẹ con Thanh Hương, vợ chồng và con tôi ôm chặt lấy nhau trong căn phòng hạnh phúc. Những giọt nước mắt nồng ấm của buổi gặp mặt thấm vào nhau, kết chặt nhau, như sự kết chặt của tiểu đội tôi năm nào...

 

                                                      Trại 5 Thanh Hóa - tháng 4/1994

                                                            Đồng Hới, tháng 9/1997

 

 

 

 

 

NGƯỜI HÁT RONG

 

          Chuyến tàu tốc hành vụt nhanh qua ngã ba Thọ Lộc và ga Ngân Sơn, nhưng bao kỷ niệm xa xưa cứ níu lòng tôi lại.

          Giữa hai địa danh mến yêu ấy là quê hương tôi. Một vùng quê đã từng nổi danh trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Lúc còn sống, cha tôi thường kể lại rằng: Hồi chống Pháp, bọn chúng đã 27 lần hùng hổ kéo quân đến định " làm cỏ" làng tôi, nhưng cả 27 lần đều bị thất bại thảm hại, đâm ra cay cú. Tên quan năm ở Đồng  Hới đã gửi thư  cho tên quan ba

Sú - séc - tơ chỉ huy ở Hoàn Lão một bức thư, có một đoạn rất chua chát và hổn xược là: " Tôi rất lấy làm xấu hổ cho ngài, cho danh dự của một sĩ quan quân đội đại Pháp, khi nghe tin một dúm dân quê mọi rợ đã nhiều lần đánh gãy cánh quân do ngài chỉ huy. Phải chăng đó là một thử thách đối với tài thao lược của một sĩ quan nổi tiếng như ngài?... Nếu ngày mai số phận hẩm hiu vẫn đến với binh sĩ và cái làng Cự Nẫm ấy vẫn không bị dẫm nát dưới gót dày của đội quân viễn chinh Pháp, thì tôi tin rằng, vâng, tôi tin như thế, lịch sử của ngài, một sĩ quan từng lừng danh ở Châu Phi, sẽ ghi một vết nhơ không bao giờ rửa sạch...". Nhưng rồi, làng quê tôi lại tưng bừng chiến thắng. Cả làng đã ba lần vinh hạnh được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu đơn vị anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước. Vùng quê ấy đã nuôi dưỡng bao thế hệ con cháu lớn khôn và đưa tiễn tôi lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, với hành trang dày cộm là truyền thống anh hùng. Giữa những năm  thập kỷ 60 của thế kỷ 20, tôi lại cùng trung đoàn cao xạ pháo trở về chiến đấu đánh trả với chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ trên quê hương. Mảnh đất nuôi thành bao dũng sĩ. Bao đồng chí, đồng đội thân thương và bao khẩu pháo thân quen của chúng tôi đã anh dũng hy sinh và vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất ấy...

          Con tàu như hiểu được lòng tôi, hòa nhập với bao suy nghĩ của tôi. Nó thường xuyên rung lên theo tiếng xình xịch, xình xịch như tiếng nấc nghẹn ngào, thương xót. Nắng Xuân lọt qua cửa sổ toa tàu tràn vào. Tôi đang đam mê, đang chìm trong bao kỷ niệm, bỗng đâu đó vẳng lại một giọng hát của trẻ thơ nghe não cả ruột gan.

          " Chiều nay mưa trên phố Huế... Tiếng mưa rơi hoài cho lòng nhớ ai..."

          Tiếng hát to dần, to dần, dội vào tai tôi với bao nỗi nhớ. Trước mắt tôi là một cậu bé chừng tám tuổi, áo quần xơ mướp, mặt mũi khôi ngô, nhưng hốc hác, lọ lem, cầm chiếc micrô hát, dắt theo một người đàn ông mù cả hai mắt, tay phải bị cụt, bàn tay trái run run đưa ra một ống bơ xin tiền. Vừa hát, cậu bé vừa nhìn chằm chằm vào mọi người, thỉnh thoảng nhìn vào túi áo, như ở trong đó có lá bùa hộ mệnh, lại nhìn người đàn ông đi sau, nhìn chúng tôi. Bỗng nhiên, trong lòng tôi cảm thấy lâng lâng khác lạ. Hình như cậu bé đang nhìn như dán mắt vào tôi rất lâu. Cái nhìn của tôi giờ đây cũng rất khó hiểu, như đang chất chứa một điều gì bí ẩn... Tôi nắm tay cậu bé kéo lại gần tôi hỏi:

          - Cháu tên là gì?.

          - Dạ, cháu tên là Tuấn ạ! - Cậu bé trả lời với giọng Huế rất chuẩn và dễ thương.

          - Người đàn ông đang đi theo cháu là ai?.

          - Là ba của cháu - Tuấn nói: -  Dạ, ba cháu là Trương Quang Thành, trước đây mạnh khỏe lắm vác nổi cả tạ sắt, nuôi được cả nhà, nhưng từ ngày vướng phải bom đạn, cha con cháu mới nông nổi thế này đây...

          Tuấn bỗng òa khóc nức nở. Dưới hai dòng nước mắt, Tuấn đưa đến với chúng tôi những bi kịch của gia đình.

          Cha mẹ em sống ở một vùng quê ven thành phố Huế, không công ăn việc làm, nên đành phải lao vào nghề khai thác phế liệu chiến tranh. Nhiều lúc trúng to, cũng có lúc không đủ tiền mua gạo trong ngày. Càng túng thiếu, càng tính, càng lao vào tìm cách kiếm tiền. Suốt ngày họ cứ lầm lũi hết vùng đồi này đến vùng đồi khác tìm kiếm từng cân sắt vụn. Rồi hôm ấy, họ nhặt được một quả đạn nặng hơn mười ký. Tuổi trẻ chưa đi qua chiến tranh, chẳng biết gì về bom đạn. Cả hai vợ chồng dùng búa, dùng ve gỏ đục gỉ rét. Quả đạn nổ tung. Người vợ bị xé ra nhiều mảnh. Người chồng bị cướp mất đôi mắt và một cánh tay. Cái dã man, tàn ác của chiến tranh thật không sao tả nổi. Hơn hai mươi năm đụng đầu trực tiếp, nó đã cướp đi hàng triệu sinh linh, để lại muôn nỗi khổ đau cho nhiều triệu người còn lại. Tưởng rằng nó đã qua đi. Tội ác của nó sẽ lụi dần kể từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975. Vậy mà, nó vẫn còn hiển hiện, hiển hiện chưa biết đến tận lúc nào... Tôi giang tay ôm chặt Tuần vào lòng. Em cũng ôm chặt lấy tôi. Giữa chúng tôi như không chỉ là sự đồng cảm của con người, mà cảm thấy còn có một điều gì đó rất thiêng liêng. Tôi lấy ví ra, rút năm nghìn đồng đưa cho Tuấn. Em cảm ơn, rồi xin phép chúng tôi tiếp tục hành trình công việc.

          " Chiều nay, mưa trên xứ Huế, biết ai đã thương ai rồi... một người biền biệt nơi mô..."

          Giọng Tuấn lại cất lên và nhỏ dần theo từng bước chân của hai cha con em. Tôi hướng tầm mắt về phía Tuấn, phía sau của đoàn tàu, phía Nam với bao kỷ niệm một thời...

 

                                                         

                                                         

 

 

                                                          *

 

                                                *                 *                

         

          Hai mươi bảy năm về trước, sau những trận chiến đấu quyết liệt với máy bay giặc Mỹ trên quê hương, tôi được điều ra huấn luyện cấp tốc một khóa trinh sát đặc công, rồi nhận quyết định vào Nam hoạt động trong lòng thành phố Huế. Quá trình gây dựng cơ sở, xây dựng phong trào, tôi đã quen một nàng sinh viên có cái tên dài ngoẳng: Công Tằng Tôn Nữ Huệ Linh, nhưng con người lại rất gọn gàng, xinh xắn, dễ thương. Đối với tôi, nàng là một người đẹp tuyệt vời, khó lời miêu tả, hiền lành, với giọng nói ngọt ngào quyến rũ, lại hăng hái tham gia phong trào sinh viên yêu nước. Hôm ấy, tôi vừa hoàn thành chuyến trinh sát Trung tâm thẩm vấn của địch về thì gặp nàng giữa đường. Huệ Linh gọi tôi lại thì thầm:

          - Có người đang theo dõi anh đó!...

          Tôi hồi hộp liếc mắt nhìn về phía sau thấy một người đàn ông khoảng hai mươi lăm tuổi, mặc áo quần sơ mi màu ghi đang đi lại quanh cây ngô đồng.

          - Người đó là ai? - Tôi hỏi nhỏ.

          - Đó là thằng Huynh, mật vụ của Ty an ninh ngụy. Thằng ấy nguy hiểm lắm. Nó từng chỉ điểm bắt nhiều cán bộ cốt cán trong sinh viên bọn em rồi. Hơn nữa, nó là người đang đeo đuổi yêu em mà em không chấp nhận. Nhiều lần hắn dở trò điểu cáng, nhưng em chống lại. Từ nay, anh đừng đến nhà em nữa. Có chuyện gì, em sẽ bí mật báo cho anh.- Huệ Linh nói.

          - Vậy thì em càng phải gần gũi hắn, bám lấy hắn để moi tin tức.

          - Dạ - Huệ Linh giục tôi: - Bây giờ anh hãy nhanh chóng thoát đi. Em sẽ gặp hắn trò chuyện và giữ chân hắn lại.

          Thế là tôi phải tạm chia tay nàng. Giữa cuộc tổng tấn công mùa Xuân Mậu Thân - năm 1975, tôi bị thương và được chuyển đến một gia đình ở vùng ven thành phố để cấp cứu. Huệ Linh lại hỏi thăm và tìm đến với tôi. Nàng tự nguyện ở lại bên tôi, chăm lo cho tôi từng bát canh, miếng cháo, tắm rửa và thay áo quần cho tôi. Có thể nói rằng, ngoài mẹ tôi ra, từ khi sinh ra đến  tận bây giờ có lẽ chưa có sự quan tâm chăm sóc nào đối với tôi bằng nàng. Hàng ngày, Huệ Linh về thành phố làm công việc của mình được giao, rồi mua vài thứ thức ăn và thuốc chữa bệnh đưa lên cho tôi. Hết thay băng, xức thuốc, nàng lại nấu ăn, giặt giũ áo quần cho tôi, làm cho vết thương lành dần. Một hôm, như đã hoàn thành công việc chăm sóc bệnh nhân, Huệ Linh đến ngồi cạnh tôi. Nàng nhìn rất lâu vào mặt tôi, và từ đôi mắt bồ câu ấy, hai dòng nước mắt nàng đổ xuống. Hai làn môi nàng mím chặt như cố giữ không để điều gì đó bật ra.

          - Sao em lại khóc? - Tôi hỏi.

          Hai làn môi Huệ Linh bỗng bật ra và khóc nức nở.

          - Anh Sinh! - Huệ Linh cúi đầu xuống, giang hai tay ôm chặt đầu tôi, dán hai khuôn mặt lại với nhau, vừa khóc, vừa nói: - Em thương anh!. Đời em giờ đây như chỉ còn mình anh. Xa anh, chắc em sẽ không còn là em nữa, mà thời gian xa nhau chẳng còn bao lâu. Vài ngày nữa, anh sẽ về tuyến sau, sẽ ra miền Bắc, về với quê hương, bà con, bạn bè vui vẻ của anh. Còn em... Ôi! Cuộc đời em sao mà khổ và đắng cay đến thế. Em phải ở lại một mình, ở lại bên những con lang sói, những kẻ phản nước hại dân đang cố ép em làm vợ. Mới đây thôi, một tên cảnh sát ngụy lại đến cò kè em. Em không bao giờ muốn chấp nhận những mối tình ác độc ấy. Chỉ có anh... -  Huệ Linh ôm chặt toàn thân tôi và lại nói: - Chỉ có anh... chỉ có anh mới đem lại niềm vui cho em. Anh hãy cho em đi, cho em một giọt máu của anh. Không có anh trong người, em sẽ chết...

          Huệ Linh nằm xuống sát bên tôi, ôm chặt lấy tôi. Lòng tôi bỗng trào dâng bao tình thương vô tận. Và, chúng tôi đã trao cho nhau tất cả.

          Suốt hai mươi bảy năm qua, trong lòng tôi chỉ có Huệ Linh. Mỗi lần vết thương nhức lên, Huệ Linh càng hiện lên rõ hơn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đã nhiều lần tôi trở vào Huế tìm em, nhưng chẳng có ai rõ tung tích, đành phải mang bao nỗi buồn, nỗi nhớ trở về.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          " Chiều nay, mưa trên phố Huế... một người biền biệt nơi mô..."

          Cha con Tuấn quay lại. Tôi nhường chỗ cho Quang Thành, rồi dắt Tuấn ra sàn sau của toa tàu, rồi trải một tờ báo ra ngồi. Có lẽ vì đi và hát nhiều quá, nên mới ngồi được một lúc, Tuấn gối đầu vào chân tôi ngủ thiếp đi, nhưng hai tay vẫn giữ lấy túi áo. Tôi nhẹ nhàng gở tay Tuấn ra, liếc mắt nhìn vào túi áo. Trong ấy chẳng có gì, ngoài một chiếc phong bì đã cũ và một chiếc ảnh đen trắng cỡ 3x4. Tôi tò mò lấy ra xem. Người tôi bỗng run lên. Hai mắt nhòa đi. Tôi chẳng biết mình đang tỉnh hay trong mơ nữa. Người trong chiếc ảnh đã được dán giấy bóng bảo vệ ấy, chính là tôi!. Là cậu Trương Quang Sinh nghịch ngợm hồi chuẩn bị đi bộ đội. Tôi luôn để nó trong chiếc ví bên mình và đã bị mất lúc bị thương. Được Huệ Linh chăm sóc. Phải chăng đứa bé này?... Không phải. Nó còn nhỏ tuổi lắm. Còn người đàn ông thì sao lại quá già?... Là ai?... Là điều gì đã xẩy ra và đang đến với tôi?... Tôi lại cầm chiếc phong bì lên. Lại một sự bất ngờ nữa đến. Thư của Huệ Linh gửi cho Trương Quang Sinh, nhưng không có địa chỉ. Tôi run rẩy bóc chiếc phong bì ra. Huệ linh đã kèm bức thư và một tấm ảnh cỡ 6x9. Huệ Linh viết:

          " Anh Sinh yêu nhất đời em!.

          Em viết thư này để lại trong một cơn đau có thể không qua được. Anh yêu thương!. Kể từ đêm ấy, đêm chúng ta sắp xa nhau, em đã có thai và đã sinh con trai, đặt tên là Trương Quang Thành. Từ đó, em ở vậy nuôi con và chờ anh với bao niềm hy vọng, nhưng càng đợi càng thất vọng, nỗi nhớ cứ dày vò em...Cho đến bây giờ thì chắc chắn rằng em không thể sống được nữa. Ung thư, căn bệnh hiểm nghèo ấy đang vào giai đoạn cuối và sắp thi hành án tử hình em.

          Trước lúc đi xa, em xin gửi lại anh lá thư này và Quang Thành, mong anh chấp nhận... Vĩnh biệt anh!... Huế, ngày 5 tháng 10 năm 1975".

          Tôi ôm chặt tấm ảnh Huệ Linh và bức thư. Nước mắt cứ trào ra như mưa, chảy xuống ướt cả áo Tuấn.

          - Huệ Linh!...- Tôi hét lên rất to và ôm chặt lấy đứa cháu....

                                                                                               

 

                                                                                                Xuân 1994

 

 

 

 

 

CAO SỐ

 

          Suốt nửa tháng nay, toàn thân ông Lún lâng lâng như người không có trọng lượng. Nhiều lúc ông cảm thấy mình bay lên, người lơ lửng giữa không trung với bao cảm giác khoái chí. Phải nói đây là một sự thay đổi bất ngờ trong đời ông. Sự thật mà như trong mơ. Ông bật dậy đưa ngón tay trỏ ấn công tắc đèn bàn. Điện ne on sáng xanh, phản vào, làm mặt ông xanh tái. Như thể không tin vào sự thật, ông nhẹ nhàng mở cặp rút tờ quyết định ra xem lại. Ông đọc chậm và nhấn mạnh từng chữ như cậu bé mới tập đọc, rồi giơ tay đánh mạnh một cái  "đét" vào đùi và hét to:

          - Có thế chứ, có ông bà bưng hộ có khác!.

          Bà Ngang - người vợ già thân yêu của ông giật mình, mở mắt bật dậy, lê tấm thân như cái chum bự lại bên ông, đưa tay sờ lên trán ông nói:

          - Trong người có gì khó chịu sao mà ông nói sảng vậy?.

          - Bà thì nói nhăng, mừng không hết nổi lại nghĩ chuyện buồn.

          - Mừng cái gì mà lúc chiều không nói cho mẹ con tôi biết với?.

          - Lẽ ra thì đã thông báo sơ bộ đợt một, đợt hai lâu rồi, nhưng lâu nay thấy chưa chắc chắn lắm. Vận may và tài lộc ông bà đã đưa đến cho hơn nữa tháng rồi, nhưng phải bí mật, hôm nay mới thông báo chính thức. Đây, bà xem - Ông Lún cầm tờ quyết định đưa cho vợ.

          Bà Ngang như hoa cả mắt, há hốc miệng.

          - Ông là giám đốc của năm công ty sát nhập lại à? - Bà Ngang ngạc nhiên hỏi.

          - Sao lại gọi là giám đốc? - Ông Lún đưa bàn tay mập mạp vỗ nhẹ lên cái mông như một khối thịt của bà, nói: - Phải gọi là Tổng giám đốc em yêu ạ!...

          - Thế là phải gọi là Tổng công ty chứ anh?.

          - Ừ, Tổng công ty Qubisaxuvilixa du.

          - Liệu bốn cái Ban giám đốc kia có chấp nhận chủ trương này không?.

          - Đúng là đàn bà, trên đã quyết thì không thích cũng phải chấp hành. Cờ vào tay ai, người ấy phất. Thằng nào không chấp hành, ông tống cổ. Quyền mình mà...

          - Em lo lắm. Vợ chồng ăn ở với nhau nay có đủ cháu nội, cháu ngoại rồi, em biết. Mình chỉ được cái cao số, ông bà thương, còn trình độ năng lực của ông thì...

          - Thì sao? - Ông Lún cắt lời.

          - Phải nói là ông không bằng bốn ông kia. Ông Nông từng là thầy của ông. Ông Rồng, ông Thắng, ông Cao và một số phó giám đốc các Công ty đều là kỹ sư cả. Còn ông, mới chỉ dừng lại cái bằng trung cấp kỹ thuật, chưa qua lớp quản lý nào...

          - Trời ơi, bằng cấp chỉ là cái tờ giấy hình thức thôi bà ạ. Thời buổi cơ chế thị trường này cơ bản là cái kinh nghiệm thực tế, ai xoay mạnh thì được ăn. Ngay cái chức Tổng giám đốc này, bốn đứa kia có xoay chạy được đâu. Cấp trên bao giờ cũng sáng suốt!...

          - Tôi nói thế là để cùng lo liệu, để trong quá trình lãnh đạo tìm cách tranh thủ sự đồng tình và chất xám của họ. Hơn nữa, xem truyền hình, nghe đài, đọc báo, em thấy bốn Công ty kia đều làm ăn có lãi, còn Công ty mình thì thua lỗ, hàng đọng, nợ dài dài, ăn nói sao được với họ.

          - Đành là thế, nhưng người xưa đã từng nói; " Một cây làm chẳng nên non...". Còn bây giờ chúng ta có đến năm cây chụm lại quá vững vàng em ạ!. QuBiTune của thằng Rồng làm ăn lên vùn vụt trở thành con Rồng của ngành. QuBiGango của thằng Thắng và QuBiXala của thằng Cao mỗi năm lãi vài trăm triệu. QuBiBabi của thằng Nông hết nợ đang lên. Chúng nó phải lấp nợ cho mình, cộng đồng trách nhiệm trong một đơn vị mà. Lên hương rồi em ạ!...

          Càng về khuya, lời qua tiếng lại giữa hai ông bà như càng to hơn, vang vọng khắp bốn tầng nhà. Con cháu ông Nguyễn Trường Lún tưởng ông bà cãi lộn nhau, liền bật dậy, bấm kéo nhau về tầng hai của ông bà. Anh con trai trưởng vội vàng hỏi:

          - Có việc gì mà ba mẹ nói oang oang giữa đêm khuya vậy?.

          - Sướng quá, nói hơi to một tý, các con ngồi cả xuống đây. Đêm nay cả nhà ta sẽ thức, thức với niềm vui trọng đại - Ông Lún vui vẻ nói: - Trước hết, thằng Kiên lại mở tủ lấy một chai rượu ngoại ngon nhất theo ý con và mấy lon bia. Còn Hương Liên bật bếp ga, hoặc lấy cồn nướng tạm cho ba mấy con mực, lấy cho mấy đứa cháu của ông bà mấy lon nước quả nữa...

          Phân công trách nhiệm cho các con xong. Ông Lún lấy chiếc cặp lại đặt trước mặt mình. Vì mọi thứ đều có sẵn trong nhà, nên công việc chuẩn bị cho một cuộc cụng ly chỉ trong chốc lát. Tất cả con cháu ngồi đông đủ quanh bàn chờ ông truyền cái sướng, như đang chờ phút giao thừa chuyển năm, chuyển mùa. Ông Lún rút tờ quyết định ra, đứng dậy, vẻ trịnh trọng.

          - Cả nhà chú ý nghe đây! - Ông nói và đọc quyết định...

          Cả con lẫn cháu đều bật dậy nhảy cẫng lên, vừa cầm ly, vừa hô " zô!, zô!".

          - Cái số của ba cao thật!. Xin chúc mừng Tổng giám đốc!...

          Những tiếng hô xen lẫn tiếng cụng ly leng keng.

          - Trật tự, trật tự! - Ông Lún vừa giơ tay vẫy vừa nói: - Ông cha mình nói rồi: " Một người làm quan cả họ được nhờ". Để việc quản lý công ty được tốt lại đảm bảo sự đoàn kết, mô hình tổ chức cán bộ của Tổng Công ty ta sắp tới theo ý định của ba là: Thằng Kiên sẽ làm trưởng phòng kế hoạch. Hương Liên sẽ là kế toán trưởng. Thằng Hậu và con Lanh làm tổ trưởng hai tổ bán hàng ở QuBitune và QuBiCime. Trước mắt, ba sẽ trích ra ba mươi triệu đồng đền bù vụ tai nạn do cậu Quân gây ra vừa rồi cho gia đình họ, để xin cậu về lái xe cho ba luôn...

          - Ba quả là người có bộ óc tổ chức vĩ đại!. Hêlô!, cho tôi một tổ chức, tôi sẽ làm đảo lộn tất cả! - Kiên xướng lên.

          Cả mấy đứa con cùng nhao lên...

          Con ma men càng lớn nhanh trong mỗi con người, làm cho cả trẻ, già, trai, gái trong gia đình ông Trường Lún xịu dần, rệu rã và ngủ lăn ngay tại chỗ. Trong nhà riêng của mình chứ đâu phải ngoài quán xá mà ngại!. Ông Lún vẫn tỉnh. Ông ngồi trầm ngâm vừa nghĩ, vừa nhẫm đọc lầm nhầm bài diễn văn trong buổi ra mắt cán bộ cốt cán sáng mai. Và, hình như ông cũng đang chờ cái phút long trọng ấy.

          Mới sáu giờ sáng, ông Nguyễn Trường Lún đã có mặt nơi làm việc mới. Ông luôn giơ tay nhìn đồng hồ. Bảy giờ, bảy giờ mười lăm...mãi gần tám giờ mọi người mới kéo đến. Buổi ra mắt đầu tiên có đủ quan khách trên dự mà buồn tẻ lạ kỳ. Nét mặt ai cũng nặng nề, âm thầm, lặng lẽ, chẳng tìm ra được một nụ cười, dù là một nụ cười khẩy để động viên. Cả buổi chỉ có hai giọng nói. Giọng nói bổng của ông Nguyễn Trường Lún. Giọng trầm còn lại của vị đại diện cấp trên, như bị nhiễm phải cái không khí chung. Sau lời kết thúc của vị đại diện cấp trên, chỉ còn vài phút nữa là tan cuộc, thì có bốn vị công nhân của bốn công ty QuBitune, QuBigango, QuBixala và QuBi Babi mang đến bốn chiếc phong bì cỡ lớn mà dày cộm đặt lên bàn của Chủ tịch đoàn, rồi xếp hàng ngang đồng thanh;

          - Anh chị em công nhân viên chúng tôi xin có món quà kính gửi lãnh đạo ạ!.

          Quả là quá bất ngờ. Ai cũng ngơ ngác không hiểu thực hư thế nào. Ông Nguyễn Trường Lún hí hửng cầm bốn chiếc phong bì lên nói:

          - Buổi đầu ra mắt mà được anh chị em công nhân tán thành ủng hộ cao thế này là quá hạnh phúc. Chúng tôi xin nhận tấm lòng tốt của các anh các chị. Công nhân có lòng thì ta có bụng, xin được phép công khai.

          Ông vội vàng xé toạc từng chiếc phong bì ra, thì eo ôi, đến gần hai trăm lá đơn của công nhân phản đối chủ trương sát nhập các Công ty. Họ lý giải rằng; trong lúc Đảng và Nhà nước đang kêu gọi phát huy nội lực, muốn phát huy nội lực tốt, phải có cơ thể cân đối, đằng này cơ thể thì nhập lại cho to, nhưng rỗng...Kinh nghiệm của 13 năm nhập tỉnh đã sáng ra rồi... Thế mới biết được cái tri thức và tầm nhìn của công nhân. Họ còn chung một kết luận: Nếu còn sát nhập công ty, sẽ xin rút cổ phần, vì làm kiểu đó không thể sống được...

          Cả hội trường càng nặng nề hơn.

          Ông Nguyễn Trường Lún như một người bị tụt huyết áp đột ngột. Bao niềm vui và hy vọng đang căng tròn từ tối hôm qua,giờ bỗng xẹp hẳn. Ông lại bước như người mất trọng lượng ra xe, bảo người lái xe là em vợ của ông đưa đến nhà cô đồng. Ông vừa bước vào thì bà thầy bói đã hỏi:

          - Mệt lắm phải không?.

          - Tôi không bị đau ốm gì, mà...

          - Biết rồi - Bà thầy bói cướp lời: - Không phải đau bệnh mà đau về tinh thần. Số của ông rất cao, nhưng lên cao trong bóng nhâm, cho nên yếu, dễ chết yểu...

          Bà thầy bói vừa nói đến đó, toàn thân ông Lún mồ hôi vã ra như tắm. Bộ comlê ông đang mặc ướt loang lổ...

 

                                                                                      Tháng 6/ 1999

 

 

 

 

 

Mẹ tôi

 

          Nghe theo lời mẹ, ngày giỗ cha lần này, vợ chồng tôi đành phải ở lại không về. Các năm trước, anh tôi phân công nhà tôi làm trước một ngày. Đúng ngày giỗ, buổi sáng cả nhà tôi về thắp hương ở nhà của anh chị, còn buổi chiều về hội tụ dâng hương tại nhà mẹ. Chả là, với danh nghĩa anh đầu chị cả, anh tôi đã rước lư hương và đưa bàn thờ ông bà, tổ tiên về nhà anh. Việc hiếu thì nói sao hết được. Vợ chồng tôi răm rắp theo lời của anh. Còn mẹ tôi thì như luôn mang một nỗi suy tư, lặng lẽ làm lụng, lặng lẽ nuôi con, mãi đến đợt định kỳ về thăm mẹ vừa rồi, mẹ mới nói:

          - Gia đình con cái không nhiều, nếu cha con linh thiêng, còn thương mẹ, thương các con, ông bà tổ tiên và cha con sẽ về với mẹ đầu tiên, rồi đi thăm đủ các con. Đứa nào cũng có gia đình, có nhà, có bàn thờ, đến ngày giỗ cha đừng để vắng người, vắng hương khói lạnh lẽo. Nhà mẹ thì mẹ cúng. Con phải thắp hương cúng ở nhà con... Nếu cha về thì mẹ chắc là cha sẽ đi hết nhà của các con...

          Làm theo ý của mẹ, ngày giỗ cha vừa rồi vợ chồng tôi tổ chức lễ cúng thịnh soạn hơn. Chủ nhật này, vợ chồng tôi mới về thăm mẹ. Gọi là thăm chỉ mới một phần, phần lớn là cấp phát định kỳ kinh phí, lương thực và thực phẩm cho mẹ. cả cuộc đời chịu đau, chịu khó, chịu khổ nuôi con khôn lớn, vậy mà khi tuổi đã già vẫn không bao giờ muốn làm phiền con cháu, không muốn ở chung với vợ chồng đứa nào, nên chúng tôi đành phải làm " hậu cần" cho mẹ. Đứa em gái đã có gia đình riêng cũng đến. " Bà cô" liền gọi tôi ra phía sau nhà hỏi:

          - Năm nào giỗ cha, anh chị cũng gửi tiền và nhiều thứ đồ để cúng, sao đợt này không gửi chi cả?.

          - Sao lại không - Tôi ngạc nhiên nói: - Về đợt trước, chị đã đưa tiền cho mẹ rồi cơ mà!...

          - Sao em hỏi tiền để đi chợ mua đồ cúng mẹ bảo không có?.

          Tôi thực sự bối rối nên phải gọi vợ ra.

          - Lần trước về nhà anh bảo gửi tiền cho mẹ để mẹ lo giỗ cha, em đã gửi chưa? - Tôi hỏi.

          - Em gửi rồi - Vợ tôi nói: - Em còn viết trên giấy dặn mẹ đưa cho O mua các thứ đồ cúng rất cụ thể và phải bày đặt cho đàng hoàng cơ mà!. Hay là mẹ đã để rơi đâu đó...

          Cả ba chúng tôi nhìn nhau. Vợ tôi không bao giờ biết nói dối. Quê tôi nghèo, cúng giỗ đơn giản lắm, nhưng trước đây mỗi lần về kỵ giỗ, vợ tôi luôn lo chu đáo. Thịt thì phải thịt nạc khổ to. Cá phải là cá khúc to, có cả hoa tươi và ngũ quả đàng hoàng. Nhiều lần vợ tôi còn giấu tiền để cho mẹ nhiều hơn và sắm đủ áo quần đẹp cho mẹ. Em gái tôi cũng thừa biết điều đó. Mẹ đã thuộc loại " cổ lai hy", sắp bước vào tuổi thượng thọ. Mắt mẹ đã mờ, tai lãng, người mẹ gầy ốm, chỉ còn dáng người là thẳng đứng, trí tuệ còn sáng suốt và phát ngôn rất thông minh. Lẽ nào... Tôi đang trầm tư trước những giọt nước mắt của vợ tôi, thì đứa em gái đã vào gọi mẹ tôi ra.

          - Mẹ ơi! - Em gái tôi gọi to vì tai mẹ tôi nói nhỏ không nghe được: - Sao hôm trước anh chị đã gửi tiền cho mẹ để giỗ cha, mà mẹ nói không có?...

          Mẹ tôi cười. Một nụ cười rất đôn hậu. Những nếp nhăn trên mặt kéo về chụm lại hai khóe đôi mắt mờ của mẹ...

          - Mẹ nói nì - Mẹ tôi đưa tay vỗ nhẹ lên vai vợ tôi nói: - Mẹ đã thắp hương xin cha của các con rồi. Số tiền các con đưa cho mẹ hôm trước, một phần mẹ đóng quỹ " đền ơn đáp nghĩa", số còn lại, mẹ đã nộp thuế vườn, thuế ruộng cho xã rồi. Cha của các con đã đồng ý rồi mà!. Ăn uống mấy rồi cũng hết, sống là ở cái tâm thôi các con ạ!...

          - Nộp thuế sao mẹ không nói? - Tôi hỏi.

          - Ừ, có thể mẹ quên, mà không quên thì cứ nói mãi. Ở nhà bao nhiêu thứ phải nộp các con ạ. Nào là quỹ bảo thọ, giúp đồng bào bão lụt, ngay cả cái màn chống muỗi, nghe đâu Nhà nước cho không, mà xã cũng thu bốn nghìn đồng, may mà có các con cho tiền luôn, mẹ nộp dần. Lương của các con thì đáng là bao, lại còn lo cho các cháu ăn, học nữa...

          - Nhưng kỵ giỗ thì phải lo chu đáo chứ mẹ! - Vợ tôi nói.

          - Cơ bản là cái tấm lòng hiếu thảo, vật chất cho kỵ giỗ thì biết mấy cho vừa. Mẹ thấy họ nộp cả, mình chưa nộp thì ảnh hưởng đường phấn đấu của con cháu. Mẹ già rồi, chỉ lo cho các con thua chị kém em!...

          Mẹ lại cười. Hình như cảm thấy trong lòng đã được thanh thản, mẹ cười vẻ đắc chí hơn. Những nếp nhăn càng nổi rõ hơn, nối tiếp nhau như những lớp sóng cuộc đời đang lượn trên cốt cách của mẹ.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          Nhìn mẹ, lòng tôi như thắt lại. Suốt cả cuộc đời mẹ lặng lẽ chịu bao khổ đau, với bao cảnh cơ cực, gian nan và vất vả, cốt tạo đường cho con tiến. Có lẽ ít ai trên đời này khổ bằng mẹ tôi. Mới chín tuổi đã mồ côi cha mẹ. ba chị em dắt nhau đi ở, làm thuê kiếm ăn sống qua ngày. Gần ba mươi tuổi mới gặp được cha tôi, cũng là người mồ côi cha mẹ từ khi bốn tuổi, cùng cảnh chăn trâu cắt cỏ cho nhà giàu. Khổ đau gặp khổ đau, càng hiểu nhau, thương yêu nhau hơn ai hết. Mẹ tôi thường kể lại cho chúng tôi nghe như vậy. Rồi hai người cưới nhau và sinh ra anh em chúng tôi. Cha tôi tham gia kháng chiến chống Pháp chín năm. Mẹ tôi một mình dắt, cõng, gồng gánh chúng tôi rong ruỗi khắp núi U Bò, Ba Rền, Bồng Lai, Đá Đẽo... lên tận vùng vua Hàm Nghi đóng đô năm xưa để tản cư, chạy giặc, ngày ngày vào rừng đào củ nâu, củ mài ăn sống qua ngày, qua tháng.

          Hòa bình chưa được mười năm, anh tôi lại xếp bút nghiên lên đường đi bộ đội. Giặc Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc. Vùng quê tôi được gọi là " yết hầu" của Tổ quốc, là cửa ngõ vào mặt trận, nên trở thành trọng điểm đánh phá của đủ các loại máy bay Mỹ. Ngày nào chúng cũng đánh, đánh đủ kiểu và đổ xuống đủ loại bom đạn và chất cháy. Đánh hủy diệt để cắt đường chi viện cho miền Nam. Cao trào chống Mỹ cứu nước bùng lên. Anh tôi vào chiến trường. Cha tôi vào lão dân quân, không quản tuổi già, hừng hực khí thế quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày đêm lăn lộn dưới bao tầm mưa bom, bão đạn của quân thù cứu người, cứu xe, cứu tài sản Nhà nước, đắp ụ pháo, san lấp hố bom và chống lầy cho xe qua, áo quần lúc nào cũng khét lẹt mùi thuốc bom. Còn mẹ tôi đã đồng ý cho Binh trạm giao liên dùng cả khu vườn cây lá sum suê làm vùng kho dự trữ và cấp phát quân trang, lương thực, thực phẩm cho những đoàn quân vào Nam ra Bắc. Mẹ còn cần mẫn vùi lấp từng dấu xe chở hàng ra vào vùng kho, chú ý thay từng cành lá ngụy trang bị héo để hàng hóa khỏi bị lộ tránh sự phát hiện của máy bay địch. Mẹ thường xuyên giúp các cô, các chú bộ đội kiểm tra, dém từng tấm tăng bạt để mưa khỏi dột ướt hàng. Mẹ giúp cho các chiến sĩ vá may áo quần. Mẹ làm liên tục không rảnh tay. Ngày nào mẹ cũng nấu vài nồi nước chè xanh đặc quánh đặt cạnh cửa kho để bộ đội ra vào uống. Chè xanh vùng quê tôi thì tuyệt vời, uống một bát B52 là dù đi đâu cũng nhớ mãi. Đêm đêm mẹ thao thức dùng chiếc sào nứa đập dập một đầu, thỉnh thoảng đập lẹp bẹp đuổi lũ chuột trong kho hàng của bộ đội. Mẹ lặng lẽ làm chẳng cần ai liên hệ, chẳng cần ai nhờ.

          - Chiến tranh mà. Người mạnh khỏe thì họ cầm súng ra trận đánh giặc. Người ở nhà cày cấy sản xuất của cải vật chất cung cấp cho kháng chiến. Mẹ già yếu, không làm được việc nặng thì làm việc lặt vặt, vừa vui vừa góp được công chống Mỹ.

          - Những việc đó con làm được - Tôi nói: - Mẹ già rồi nghỉ cho khỏe, cho con góp phần chống Mỹ với.

          - Thế là tốt - Mẹ xoa đầu tôi: - Thời buổi chiến tranh, dầu sôi lửa bỏng, ai mà ngồi nghỉ được. Việc mẹ thì mẹ làm. Việc con thì phải học cho giỏi, sau này có kiến thức để phục vụ Tổ quốc. Cha mẹ thiệt thòi nhiều quá rồi, các con cố gắng lên...

          Chiến tranh ngày càng ác liệt hơn. Sau một đêm các lực lượng trong xã san lấp hố bom mở đường cho xe qua. Sáng hôm ấy, cha tôi đang nghỉ, thì một tốp máy bay F4H, mà chúng thường gọi là "con ma" ập đến tập trung đánh phá vào làng tôi. Cả làng liên tục rung lên theo từng loạt bom nổ. một góc kho hàng bị bốc cháy. Cha tôi quên cả mệt mỏi lao ra khỏi hầm, cùng mấy thủ kho, dùng bao tải ướt và tất cả sức mạnh của mình quất tới tấp vào ngọn lửa, làm cho ngọn lửa lùi dần rồi tắt ngấm. Như đã phát hiện được mục tiêu, lũ máy bay địch kéo đến đông hơn và ném bom  dữ dội. Hai tiếng nổ phát ra giữa không trung. Khoảng chưa đầy ba mươi giây, bom bi nổ rền cả mặt đất. Một quả nổ cạnh cha tôi. Và, cha tôi đã ngã xuống trên mảnh vườn mấy mươi năm gắn bó với mình. Thi thể cha tôi dăm dở vết bom bi. Khi mẹ tôi đến, từ trong ngực cha tôi máu bỗng trào ra. Mẹ tôi chỉ biết lấy bàn tay đè lên vết thương và òa khóc, lệ tuôn trào xuống hòa với máu và thi thể của cha tôi...

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          Mảnh đất mà mẹ và cha tôi khai khẩn từ ngày mới lập gia đình đã thấm đẫm bao mồ hôi, nước mắt và máu trong lao động kiếm miếng ăn nuôi con, lại thấm cả máu và hồn thiêng của cha tôi - nơi cha tôi từ giã cõi trần suốt gần ba chục năm qua, chỉ là một vùng đất trắng pha cát. Hậu quả của chiến tranh, hậu quả của những thùng dầu lửa, mỡ hóa học bị bom ném vỡ chảy ra hủy diệt sự sống, đến cỏ cũng không mọc nổi. Bên cạnh những cây mít cổ thụ cha tôi trồng cách đây gần nửa thế kỷ, đã bao lần cống hiến cành lá cho việc ngụy trang hàng, duy chỉ có cây táo mẹ tôi trồng cạnh nơi cha tôi ngã xuống là sống và luôn xanh tốt. Những cây mít già cỗi chẳng đưa lại nguồn lợi ích gì. Cây táo quả cũng nhỏ nhưng đến mùa sai trái, cháu con đến hái ăn quây quần bên mẹ tôi rất vui. Còn cây đào thì tết năm nào cũng nở đầy hoa, mẹ tôi thường biếu các nhà xung quanh vài cành cắm vui Xuân...

          Mẹ vẫn đưa tay xoa lên đầu tôi như thuở nào tôi còn nhỏ. Tôi nhìn mẹ già đã gần tuổi tám mươi, nhìn mảnh vườn cằn cỗi, nhìn cành đào, cây táo... bỗng hiểu hơn vì sao mẹ tôi không rời bỏ được mảnh vườn để đi ở với chúng tôi sau hàng trăm lần chúng tôi khuyên bảo, càng hiểu hơn giá trị của những đồng tiền mẹ tôi nộp thuế. Thuế cho cuộc đời, cho tình cảm sâu nặng với cha tôi, với dòng máu mà cha tôi đã thấm xuống, với bao dấu tích và kỷ niệm của một thời chung sống... Thuế cho cả cuộc đời chúng tôi trưởng thành, cho cây táo sum suê đầy quả và con cháu vui vầy, cho cành đào thắm đỏ hoa Xuân. Tôi ôm chặt lấy mẹ, òa khóc...

 

                                                                                      Tháng 9/1997

 

 

 

 

 

KHI GIÁM ĐỐC VÀO TÙ

 

          Cánh cửa sắt từ từ khép và được người cảnh sát quản lý phạm nhân khóa lại phía ngoài. Trương Lình đảo mắt nhìn quanh. Phòng chỉ bằng một phần ba cái buồng ngủ của hai vợ chồng ông ở nhà, nhưng...cũng sạch sẽ và thoáng, có đủ ánh sáng trời và ánh sáng điện. Trong phòng đặt một chiếc giường rộng khoảng một mét, trải chiếu Nga Sơn, có đủ chăn, màn, gối còn mới. Cạnh góc phòng còn có một cái tủ cá nhân, trên có đặt một ca nước lọc và chiếc ly nhựa. Chứng tỏ họ rất biết tôn trọng mình!. Ông nghĩ vậy và gật gật cái đầu. Ông vừa nhìn, vừa tự mình nhận xét như đang nghiệm thu một công trình. Ông lại đảo mắt nhìn như soát xét lại một lần nữa, nhưng... Ông lắc đầu, rồi cởi bộ áo quần ngoài ra, móc vào những cái móc bằng inox trên tường và ngã mình xuống giường. Tấm thân trùng trục và cái lưng đắp đầy một lớp thịt, nhưng khi nằm xuống, ông vẫn cảm thấy như những đốt xương sống cứ cọ xát vào những thanh vạc giường. " Cái trại này tệ hại thật, đến một tấm nệm mà cũng không có!". Ông lẩm bẩm một mình vẻ bực bội, nhưng rồi cơn mệt mỏi cũng đưa ông vào giấc ngủ. Suốt cả một ngày hết ngồi, lại đứng hầu tòa làm ông nhũn cả người. Mới đặt lưng xuống vài phút và sau mấy câu lầm rầm, là ông ngáy ầm ầm, như  cái xe công nông đầu ngang chạy giữa đường.

          Cộc, cộc, cộc...

          Có tiếng gõ cửa.

          - Đứa nào làm ồn vậy? - Ông nói với giọng ngái ngủ: - Có việc gì, cứ đến giờ làm việc đến cơ quan giải quyết nha!...

          - Dậy mà đi ăn cơm, tối rồi ngủ tiếp - Tiếng người gõ cửa vọng vào.

          - Thằng nào mà ăn nói hỗn láo thế? Muốn mất việc à?...

          - Xưa rồi ông ơi!.

          - Được, để tao cho mày biết thế nào là xưa này!...

          Vừa nói với vẻ bực tức, ông vừa bật dậy. Bóng tối bắt đầu ùa vào căn phòng. Ông đưa tay dụi dụi lên đôi mắt cay xè, miệng lẫm bẩm: " Cơm cơm, nước nước, cứ đặt sẵn lên bàn lúc nào ăn mà chẳng được!". Rồi như nhớ ra điều gì đó, ông bước ra đẩy cửa. Trước mắt ông là một chiến sĩ cảnh sát trẻ, mang cấp hàm trung sĩ.

          - Chào đồng chí! - Trương Lình nói.

          - Ông xưng hô với ai đây? - Chiến sĩ cảnh sát trẻ chất vấn.

          - Thì đồng chí với đồng chí chứ còn với ai đây nữa!...

          - Bây giờ ông có biết ông đang ở đâu không?.

          Trương Lình bỗng giật mình.

          - Dạ thưa... thưa cán bộ, em quên ạ. Lâu nay hàng ngày ở cơ quan em thường xưng hô như thế, nên quen miệng ạ!.

          - Thôi, mặc áo quần vào rồi xuống bếp ăn cơm kẻo anh em họ đợi - Chiến sĩ cảnh sát trẻ nhắc nhở.

          - Dạ, mà thưa... xin hỏi cán bộ tên là gì ạ?.

          - Tôi là Minh, trung sĩ Nguyễn Bình Minh.

          - Dạ, em xin cảm ơn ạ.

          " Mẹ kiếp, mới nhãi ranh chưa bằng con út của tao mà làm bộ". Trương Lình bực tức buông ra một câu như vậy, khi chiến sĩ trẻ Nguyễn Bình Minh đi xa, rồi vội vàng đi xuống bếp. Khu nhà ăn của phạm nhân quá sạch. Sự xuất hiện của Trương Lình, làm nổi lên bao tiếng xì xào trong đám đông phạm nhân.

          - Ông ta là giám đốc Cimatra đó - Một phạm nhân nói.

          - Cimatra là cái gì?. Sao nghe cứ như là của nước ngoài vậy? - Một phạm nhân khác ngạc nhiên hỏi.

          - Là xi măng trắng ông nội ạ!. Thời đại mà đi đâu cũng thấy xây dựng, thì các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh những mặt hàng xây dựng, phất nhanh lắm - Một phạm nhân khác giải thích: - Nhà ông ta ở cách nhà mình ba nhà. Cùng là cán bộ với nhau, mà nhà ông ta giàu lắm. Nhà xây kiểu cách hết ý. Trong nhà, tiện nghi toàn đồ " xịn", không thiếu thứ chi...

          - Đã như vua thế rồi mà còn làm cái gì nữa để vào tù không biết - Một phạm nhân khác phân vân: - Đói khổ sinh ra trộm cướp như chúng mình thì đã đành...

          - Lòng tham thì vô đáy mà. Hôm qua vào thăm, vợ mình nói là Công ty của ông Trương Lình làm xi măng dởm. Thực tế thì ở trong tỉnh mình chưa có nhà máy sản xuất xi măng trắng đâu. Công ty ông ấy chỉ làm nhiệm vụ kinh doanh cho nhà máy và được ngoài kia cho là độc quyền trong tỉnh. Ngon thế rồi mà ông còn cao kế đem bột thạch cao trộn vào. Bột thạch cao thì bát ngát ở vùng Lộc Đại. Tham quá, hóa mù...

          - Vậy thì bọn mình phải cho ông ta biết mặt- Người phạm nhân vừa nói vừa vẫy tay bảo mọi người cụng đầu vào để hội ý.

          Khi Trương Lình ngồi vào bàn, thì cả năm phạm nhân kia cũng kéo lại ngồi. Ông nhận ra ngay phạm nhân ở cạnh nhà mình, nhưng không một lời chào hỏi, mà cúi mặt xuống. Hồi anh ta phạm tội, khi đưa ra kiểm điểm trước tổ dân phố, ông là người phê phán, chỉ trích hết lời và đề nghị chính quyền phải trừng phạt anh ta với mức án cao nhất. Qua vụ việc của anh ta, làm như mình là người có chức vị cao nhất và hiểu biết nhiều nhất trong tiểu khu, ông nói thành một bài dài dằng dặc giáo huấn về đạo đức cách mạng, về những biện pháp để ngăn chặn tình hình tội phạm... Căn cứ vào các điều luật và mức độ phạm tội, tòa chỉ xử phạt anh ta ba năm tù giam. Ông đã ba lần làm đơn kháng nghị phải tăng mức án đối với anh ta. Nhưng, luật là luật, nên ông ta đành ngậm bồ hòn. Cả năm phạm nhân cũng chẳng ai chào hỏi ông một lời, chỉ ngồi bấm chân nhau, nhắc nhở thực hiện ý đồ...

          Ăn xong, Trương Lình về đến phòng thì gặp trung sĩ Nguyễn Bình Minh.

          - Ăn uống thế nào anh Lình? - Trung sĩ hỏi.

          - Được đấy! Có cá, có rau, có thịt... Cơm canh nóng sốt như vậy là tốt!- Trương Lình vẫn nói theo cách nhận xét của bề trên: - Nhưng chúng nó ăn uống thiếu văn hóa quá, ăn như người chết đói lâu ngày, hì hục gắp, xúc, và với tốc độ chóng mặt. Tôi chưa hết bát cơm, thì chúng nó đã quét sạch. Cần phải giáo dục cả cách ăn, không thì hỏng...

          - Anh nói sao?. Anh nói ở đâu vậy? - Trung sĩ Nguyễn Bình Minh hỏi.

          Trương Lình nghĩ lại và lại tỏ ra bối rối.

          - Dạ thưa!... Dạ em hơi... nói chung là rất tốt...

          - Tôi muốn hỏi là anh nói việc gì mà thiếu văn hóa đó.

          - Dạ em nói là chúng nó ăn nhanh quá. Em ăn chưa hết bát cơm thì cả mâm đã hết và chúng nó bỏ dậy cả. Ăn kiểu này e em chịu không nổi. Cái ăn thì em được lắm, nhưng ăn rất chậm. Cán bộ nghiên cứu cho em một suất riêng được không ạ?. Hay là ta cứ trích quỹ công đoàn ra - Ông ta lại nói theo cách nói của một vị giám đốc: - Mua cho mỗi người một bộ cặp lồng rồi đến bữa chia mỗi người một suất!...

          Trung sĩ nhìn ông cười và nói:

          - Đã vào đây là phải hòa đồng, phải mang tính tập thể, cố gắng lên!. Đến như tôi cũng ăn tập thể như giám thị mà...

          - Dạ, em xin cố...

          - Thôi, vào phòng đi, chúc anh ngủ ngon!.

          - Dạ, em cảm ơn cán bộ!.

          Trương Lình lại ngã lưng xuống giường. Đêm trong trại giam đầu tiên thật quá buồn. Nếu như còn ở nhà thì đã có vợ con chăm lo, trò chuyện, ít ra thì cũng ngồi trên ghế nệm rung đùi xem ti vi. Những ngày đi công tác xa nhà, trước khi đi ngủ, ít chi cũng được hơn một tiếng đồng hồ có các em massage, xoa bóp, cần thì ' tàu suốt" cả đêm, tệ lắm thì cũng có lái xe bên cạnh. Vậy mà... đúng là tù. Bao suy nghĩ cứ hiện lên trong cái đầu của ông và cái bụng cứ cồn cào, không sao ngủ được.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          Thật là chẳng ai học hết chữ ngờ. Ông nghĩ vậy. Ngay cả cái chân giám đôc đến với ông cũng quá bất ngờ. Mới cách đây hơn mười năm, Trương Lình chỉ là một anh phụ nề cho tốp thợ " Tim đời". Cả tốp chẳng thằng nào học đến nơi đến chốn. Chỉ có trương Lình, tuy chưa có bằng tốt nghiệp, nhưng đã học hết lớp mười thời chiến. Chủ thầu là thằng Chiến, mới học hết lớp bảy, nhưng nhờ có chú bác làm quan trong tỉnh, nên được đi Đức ba năm. Về nước sẵn có mấy trăm triệu đồng trong tay, lại là thời điểm tỉnh nhà mới chia từ Bình Trị Thiên ra, công trình xây dựng đầy  rẩy. Hắn đã thuê một người có tay nghề thợ nề bậc cao, tập hợp một số thợ xây, tạo thành một đội đi ký nhận công trình để xây. Làm ăn được lắm. Chuyện trộn hồ, đổ bê tông Trương Lình hầu như phải đảm nhiệm. Ngoài ăn nhậu ra, mà mỗi tháng cũng bỏ túi hơn hai chỉ vàng bốn con 9.

          Một hôm, cả đội thằng Chiến đang xây nhà cho một đại tá cạnh ga Thuận Lý, thì có một chiếc xe Lada bóng lộn chạy đến. Từ trong xe, một người thấp lùn, to béo bước ra và đi vào ngôi nhà đang xây.

          - Ở đây có ai tên là Trương Lình không? - Ông ta hỏi.

          Trương Lình đang bê cả hòn đá móng dễ đến nửa tạ, nghe đến tên mình, liền thả xuống. Anh ta nhìn chốc lát, rồi quên cả áo quần lấm đầy bụi đất, xông vào ôm chặt người khách.

          - Bá Lành! - Trương Lình hét to: - Mày vào bao giờ?. Nghe nói dạo ni mày làm to lắm phải không?...

          - Buông ra kẻo bẩn hết áo quần xịn của người ta kìa! - Anh em trong đội vừa ngơ ngác, vừa nhắc nhỡ Trương Lình.

          Bá Lành vẫn đứng trong vòng tay của Trương Lình, nhìn anh em thợ xây nói:

          - Mời anh em giải lao, vào quán kia uống với anh em tôi ly nước cho vui hè!.

          Trương Lình từ từ buông thả tay ra, đưa hai bàn tay phủi mạnh vào áo Bá Lành, nhưng áo Lành đã thấm đẫm mồ hôi Trương Lình và màu đất vàng, bụi đá.

          Từ sau buổi gặp đó, Trương Lình được Bá Lành giao cho làm trưởng đại lý Cimatra tại Quảng Bình. Ông ta được tuyển thêm mấy người phục vụ và lập thêm mấy " vệ tinh" ở các huyện. Từ Cimatra, Trương Lình quan hệ và kiêm thêm nhà phân phối cho nhà máy xi măng Bỉm Sơn.

          Sau hơn mười năm bị lãng quên trong xu thế " làm ăn lớn" sát nhập Bình Trị Thiên, được tái lập, cả tỉnh Quảng Bình trong tình thế phải xây dựng lại hoàn toàn, bỗng trở thành công trình xây dựng. Xây trụ sở làm việc, xây nhà ở của cán bộ công nhân viên, nhà của từng gia đình... tất cả đều phải làm lại ngay từ đầu. giữa cảnh hàng chục cơ quan, hàng ngàn gia đình và cán bộ từ Huế ra, chưa có chỗ làm việc, ăn nhờ, ở đợ. Giờ đây thì ông ta coi thằng bạn học Bá Lành là thánh, là tiên, là người cứu nhân độ thế, sinh ra cho mình cuộc đời mới. Kể ra thì ông ta cũng có công trong công cuộc xây dựng lại quê hương đàng hoàng và to đẹp hơn này. Dù là nó rất tỷ lệ thuận với độ dày các két tiền của Trương Lình, nhưng để có đủ các loại xi măng phục vụ xây dựng đồng loạt trong cả tỉnh thời ấy, là một việc làm không phải dễ. Đại lý của Trương Lình ngày càng phát đạt và chính thức trở thành một công ty, với nhiều cơ sở chân rết đến tận các xã. Ông ta mua đất, xây nhà ngay trên một trục đường chính của trung tâm tỉnh lỵ Mặt bằng nhà chỉ hơn trăm mét vuông, nên đành phải xây cao năm tầng. Tầng trệt thiết kế và trang trí đàng hoàng có treo tấm biển thuê họa sỹ có tiếng kẽ mấy chữ to, viền nổi, màu sắc sặc sỡ " Công ty Cimatra - Chuyên phân phối các loại ciment". Để gọn nhẹ về tổ chức, bớt phần chi phí không cần thiết, Trương Lình chủ yếu phát triển các " vệ tinh" ở cơ sở. Ở Công ty thì ông là giám đốc. Thằng em ruột làm phó. Cô cháu ruột bên vợ vừa học xong đại học tài chính được sắp xếp làm kế toán. Còn vợ thì làm thủ quỹ thu tiền. Ngoài ra, chỉ có thêm một phụ nữ đã ngoài tuổi bốn mươi làm phục vụ Công ty và gia đình.

           Cuộc đời quá là đẹp!. Trương Lình cứ miên man trong suy nghĩ. Có lúc ông ta cảm thấy như đang trong mơ. Suốt một thời ông ta sống hơn vua. Đặt chân đến đâu cũng được mọi người niềm nở chào đón. Ngay cả một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cũng phải bám vào ông, để được ông ta ban phát, giúp đỡ, có tiền phần trăm, có vật liệu xây nhà cao cửa rộng, lại thường xuyên được mời đi nhậu lai rai với đủ món đặc sản hiếm có trong tỉnh. Mặc dù những cái thứ mà người ta thích như thịt thú rừng, ba ba, rắn rừng, rắn biển, cua, ghẹ, tôm hùm...nhưng với ông ta như là những chất phản ứng. Thấy những thứ đó là rùng mình, như đang bị lên cơn sốt. Ông ta chỉ thích rau, cá vụn, tép, cua đồng, rạm... Vậy mà,... Ông ta nghĩ: "Giá như mình không nãy sinh lòng tham. Giá như không có tòa nhà ba tầng, với tổng diện tích mặt bằng năm trăm mét vuông của Công ty Vasaxukha bị sập và mấy chục Công ty xây dựng tố cáo Ciment dởm, mà mấy chục đại lý của  đã ký thừa nhận làm theo chỉ đạo của mình. Giá như không còn mấy nghìn bao Ciment dởm còn sờ sờ ra đó làm bằng chứng, trước sự theo dõi và biên bản của Công an tỉnh, buộc mình phải đưa tay ký vào thừa nhận... thì đâu đến nông nổi này!.... Thôi thì... mình làm mình chịu..." Ông ta thở dài... Ông ngồi dậy kéo chiếc ghế lại ngồi bên khung cửa sổ, đưa mắt nhìn về phía nhà mình. Màn đêm mênh mông, chỉ có ánh sáng của mấy ngọn đèn bảo vệ trại. Nỗi nhớ vợ, nhớ con bỗng trào lên trong ông. Ông vụt đứng dậy nhìn rất lâu vào mặt chiếc tủ, rồi lại dùng tay nắn nắn túi áo, túi quần.

          - Cái điện thoại di động của mình đâu rồi nhỉ?. Đến cái điện thoại bàn cũng không có! - Ông lẩm bẩm một mình.

          Cơn mệt mỏi lại kéo ông xuống giường. Trong cơn mê, ông lại bắt gặp năm  phạm nhân cùng ăn với mình lúc chiều. Cái bụng của ông cứ sôi sùng sục, như một guồng máy chạy hết cỡ mà không còn nhiên liệu.

          - Không! Không bao giờ tao ngồi cùng bàn ăn với chúng mày nữa đâu! - Ông lại hét toáng lên.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

          Trời sáng. Tiếng kẻng báo thức của trại vang lên.

          Trương Lình đánh răng, rửa mặt rồi xuống bếp ăn sáng. Mọi người đã vào bàn ăn hết. Vẫn chỉ còn lại ông và năm người hôm qua. Ông dùng môi ém chặt cho mình một bát cơm, rồi mặc cho những người kia hì hục xúc, và. Đang ăn thì trung sỹ Nguyễn Bình Minh đến.

          - Từ nay, anh Trương Lình vào làm ở đội của anh Bảng - Trung sỹ Bình Minh đưa tay chỉ vào phạm nhân ở gần nhà ông: - Công việc của đội ngày nay là phụ nề, xây tường rào của trại. Anh Trương Lình cố gắng nhé!. Các anh cũng phải giúp anh Lình làm tốt công việc.

          - Dạ! - Cả bàn đồng thanh.

          Đến hiện trường, đội trưởng Bảng đưa tay chỉ vào đống đá móng nói như ra lệnh:

          - Mọi người đến đây, đầu tiên ai cũng phải qua thử thách. Để giúp anh Trương Lình có điều kiện tập luyện, làm giảm bớt vòng bụng và tiêu bớt mỡ, hôm nay, anh phải khiêng hết nửa đống. Nửa đống còn lại, anh em trong đội lo đảm nhiệm. Thế nào, anh Lình có ý kiến gì không?.

          - Sao, không nhận à? - Thấy Trương Lình còn lưỡng lự, một phạm nhân khác nói: - Ở đây, đại ca Bảng lệnh điều gì là phải làm, không làm thì bình bầu hàng tháng chỉ có loại kém. Bọn này không giơ tay cho đâu!. Cứ mãi loại kém thì mọt gông mới được về với vợ với con...

          Biết không thể làm gì hơn, Trương Lình đành phải chấp nhận, chỉ có một yêu cầu là đến bữa ăn, ăn từ từ, để dành phần cho ông với. Cả mấy người trong đội cười ha hả.

          Trở lại với công việc ôm đá, phụ nề, Trương Lình càng thấm thía với câu nói của một người anh từng làm lãnh đạo: " Ở đời không ai hơn ai hết, sống phải biết tôn trọng mình, tôn trọng người khác. Ông cha ta từng nói  "đời có lúc". Gặp thời, anh làm lãnh đạo. Hết lãnh đạo thì hoàn dân thôi". Vâng, sống ở đời phải biết tôn trọng lẫn nhau, đừng xúc phạm nhau, đừng làm việc ác và việc xấu. Ông lại nói một mình: " Mình sẽ cố gắng cải tạo thật tốt, để sớm trở lại với đời...".

                                                                                      Tháng 4 năm 2004

 

 

 

 

 

 

 

 

LỖI HẸN

 

          Mạnh Hải gấp tập hồ sơ khép lại mấy giờ tranh thủ nghiên cứu thêm về chuyên án " YVOA202". Mọi tình hình lùi vào bóng tối và cuộc điều tra chưa có gì sáng sủa. Kể ra, anh em trinh sát đã rất dày công. Kết hợp được rất nhiều biện pháp công tác và các đối tượng đã qua nhiều sàng lọc, nhưng chưa có cơ sở để kết luận. Thương lính vất vả, anh cũng quên ăn, quên ngủ, để tâm trí nghiên cứu suốt ngày đêm. Anh đứng dậy bước ra  hành lang giơ tay, vươn vai với những động tác thể dục nhẹ nhàng. Trời dày đặc sao. Bỗng một ngôi sao lóe sáng rồi lao nhanh, kẽ lên bầu trời một vệt sáng dài. Anh bước vào phòng làm việc, đưa bàn tay run run bóc một tờ lịch. Ngày mai là ngày giỗ đầu của Mai Thạch. Ngậm ngùi thương xót bạn, anh vào phòng ngủ, thả mình xuống giường.

                                                         

                                                          *

 

          Mạnh Hải quê ở một vùng sơn cước. Làng Bắc  Hà của anh như một cái chảo khổng lồ đặt dưới chân dãy Trường Sơn, làng kháng chiến nổi danh khắp cả nước. Còn Mai Thạch ở làng biển Hải Linh, bốn mùa sóng biển rì rào, hải sản phong phú không nơi nào sánh nổi. Hai làng nối với nhau bằng dãy núi Lệ Đệ, tạo nên một bãi tắm tuyệt vời. Hai người gặp nhau trong một lớp học của mái trường cấp ba. Và họ, rồi rồi đến cả hai gia đình thân nhau như không thể rời nhau được. Họ vào công an cùng học trường Đại học cảnh sát, cùng học khoa hình sự. Ra trường, trở về tỉnh, họ lại cùng chung một đơn vị. Mai Thạch có cô em gái tên là Thục Chi, so bề tài sắc chưa phải  "mười phân vẹn mười", nhưng trong mắt Mạnh Hải chưa có nàng nào hơn. Cả nhà Mai Thạch cũng có ý vun đắp cho anh. Thục Chi quí trọng anh nhiều lắm. Cô bé quá vô tư. Đã là một cô giáo tiểu học rồi mà mỗi lần Mạnh Hải đến chơi nhà, Thục Chi cứ mừng rỡ, hát hò vui vẻ như trẻ gặp mẹ chợ về.

          - Mày thấy nó vừa mắt, thì tao gả cho đó! - Ba Thục Chi từng vỗ vào vai Mạnh Hải, nói trước mặt con gái.

          Thục Chi cười tít cả hai mắt.

          - Nó sướng mày quên cả trời đất rồi đấy Mạnh Hải ạ! - Mai Thạch nói đùa: - Thích nhau thì cứ thích, nhưng là phận làm em thì lúc nào anh này có vợ, hai em mới được cưới nhau đó!.

          - To gan nhỉ! - Mạnh Hải nói: - Lính mà bắt xếp gọi bằng anh. Về tuổi tác, mình còn hơn cậu mấy tháng nữa đó.

          - Kệ, đó là ngoài xã hội, còn về nhà thì phải tôn ti trật tự - Mai Thạch vừa cười cười nói nói, vừa châm rượu đưa cho Mạnh Hải một cốc: - Uống chúc sức khỏe anh đi chú em!.

          Ba mẹ Mai Thạch nhìn các con vui vẻ với nhau, cũng nhìn nhau cười sảng khoái.

          - Sao, thanh niên ngồi uống rượu mà không mời ông già này nhâm nhi cùng à?.- Ba của Mai Thạch bắt đầu lên tiếng: - Hình như bà có cái món gì đặc biệt chuẩn bị tiếp rể tương lại dưới bếp, đưa lên cho cha con chúng tôi nhâm nhi nào!.

          Nghe ba nói, mẹ Thục Chi nhanh nhảu chạy xuống bếp. Chỉ sau mấy phút, bà bê lên một đĩa tôm hùm, con nào cũng to bằng cái cán rựa, đang bốc hơi nóng. Bà nói:

          - Ở thành phố sơn hào hải vị, dân miền biển chỉ có đặc sản vậy, ba cha con cứ nhậu no thì thôi.

          Bà lại cười, rồi  bước lại ngồi lên chiếc võng làm bằng lưới đánh cá đung đưa. Ba Thục Chi nhìn Mạnh Hải nói:

          - Nhậu thế này có được không con?.

          - Dạ, hiếm có quá bác ạ - Mạnh Hải nói: - Ở thành phố, con chưa từng thấy tôm hùm to thế này bao giờ.

          - Cũng có - Ba Mai Thạch cướp lời: - nhưng loại này chỉ có dành cho kẻ giàu sang và tham nhũng thôi. Cánh công an chưa đủ tiền để đi công tác. Đã là sĩ quan cấp tá rồi mà vẫn luôn về xin tiền nhà, thì làm gì có đủ đô để đụng đến loại này!...

          Nhấp thêm một cốc rượu, ông nói vui:

          - Bình thường không ai dại gì mà xài loại này. Mỗi con gần bằng cả tháng lương tối thiểu chứ không ít - Ông chọn thêm một con thật to đưa cho Mạnh Hải, nói tiếp: - Nói thế chứ cứ ăn đi. Sáng ni đi biển về chưa đến nhà, Thục Chi đã ra chọn giành mấy con này rồi. Ba mẹ hỏi lấy làm chi, nó cười thiệt tươi, rồi nói: " Trưa ni có anh Mạnh Hải ra". Ừ thì thương con phải thương lấy rể chứ sao. Cụng ly nào...

          Cả nhà cười rộ lên.

          Cuộc vui lai rai đến năm giờ chiều. Mạnh Hải và Mai Thạch lên xe phóng về trực đơn vị.

 

                                                          *

                                                *                 *

          Thành phố đang chìm trong giấc ngủ, bỗng một hồi chuông điện thoại vang lên. Mạnh Hải bật dậy, cầm ống nghe. Từ phía đầu dây bên kia cơ sở của anh báo về tên Đinh Hẹn xuất hiện tại bãi gỗ ở ga Mông Ly.

          - Hiện nó đang làm gì ở đó? - Mạnh Hải hỏi.

          - Dạ, đi bên nó có thêm hai thằng lạ mặt - Cơ sở báo: - Bọn chúng đang dở trò chấn tiền của những người đi rừng.

          - Cố gắng bám chặt lấy hắn nhé. Chúng tôi sẽ đến ngay.

          Mạnh Hải liền quay máy gặp Phó giám đốc phụ trách cảnh sát báo tin và xin chỉ thị. Anh được giao nhiệm vụ chỉ huy Mai Thạch và hai chiến sĩ khác đi bắt Đinh Hẹn. Hắn là một tên cướp từng là đàn anh cầm đầu một băng chuyên chặn đường chấn tiền và vàng của những người đào vàng ở vùng Khe Luồng. Trong người hắn luôn mang vũ khí. Ngoài khẩu AK dắt đầy băng đạn khoác trên vai, kèm theo hai băng dự phòng, bên thắt lưng còn gắn thêm một súng K54 và một dao găm sắc nhọn tưởng như một con ruồi chạm vào là đứt ngang. Không chỉ là dân đào vàng mà dân ở cả khu vực Khe Luồng thấy mặt hắn đã khiếp hồn. Ai cả gan làm trái ý hắn, chắc chắn vài ngày sau có chuyện chẳng lành. Nếu trời cho hắn biết cái chữ để ghi nhật ký tội ác thì chí ít cũng được vài trăm trang sách in. Đã có ba thanh niên háu đá, không giải thích nổi vết sẹo trên mặt trước người yêu, vì có một lần chống lại lệnh hắn. Nhiều nhà dân đành phải ngậm ngùi nuốt nước mắt, trước con bò béo mộng, tràn trề sức kéo vừa bị ai đó chặt què chân, rồi lại nghĩ rằng chỉ vì hôm qua không mời hắn cốc rượu!. Công an huyện đã nhiều lần mở các đợt truy kích và tổ chức phục kích, nhưng chưa một lần ngửi được mùi hôi của hắn. Những ngày sau đó hắn càng hành động trắng trợn hơn, như một sự thách thức. Và, hắn đã mai phục bắn chết một công an thôn. Công an tỉnh đã có lệnh truy nã toàn quốc và cử bao nhiêu đợt cán bộ cảnh sát điều tra, cảnh sát hình sự loại " có cựa" về nghề nghiệp đi khắp nơi tìm hắn, nhưng hắn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc ở vùng này, khi ở vùng kia, nguồn tin thì rất chính xác, mà không tài nào bắt được hắn.

          Lần này mẹ hắn ốm nằm liệt giường. Thương mẹ già không có ai chăm, Công an tỉnh cho y tá mang thuốc ra nhờ người hàng xóm bí mật chăm chữa cho mẹ hắn, đồng thời bố trí một tổ võ nghệ cao cường, nghiệp vụ tinh thông, bám sát ngôi nhà đó. Kết quả, sau một tuần phục kích, thêm rất nhiều nốt muỗi trên người, nhiều nốt đã lở ra, nhưng bóng dáng hắn chẳng thấy đâu. Còn người mẹ già của hắn vẫn có thịt rừng, gà ri do hắn đưa về lúc nào không ai hay biết. Cứ nghĩ đến hắn, các trinh sát hình sự tức lộn cả ruột. Dân kêu trách, lãnh đạo Công an tỉnh luôn thúc giục cán bộ chiến sĩ dồn bao công sức và trí não với hắn. Ngay phó trưởng phòng Mạnh Hải cũng đã phải đưa thân ra cho muỗi đốt mấy đợt giữa rừng sâu vì hắn.

 

                                                          *

 

          Cách ga Mông Ly chừng ba trăm mét, theo lệnh của Mạnh Hải, Mai Thạch và hai sĩ quan trẻ bước xuống khỏi chiếc xe U oát thùng, rẽ vào xóm, tìm đến điểm hẹn. Một thanh niên để ria mép dài vẻ là một tay chơi hảo hán tiếp các anh trong một căn nhà lá, vách đất. Uống hết bát nước chè xanh đặc quánh. Mạnh Hải hỏi người thanh niên:

          - Hiện giờ hắn ở đâu?.

          - Dạ hắn đang cùng hai thằng đàn em ngồi uống rượu ở quán " Cây Si" - Người thanh niên trả lời.

          - Hắn mang áo quần gì?.

          - Dạ quần bò, còn áo nền trắng có kẻ sọc đứng màu xanh đậm, đầu đội mũ cối Trung Quốc.

          - Sát với quán " Cây Si" có quán nào không?.

          - Có quán thịt chó " Cu Ngáo" ạ!.

          - Thế là tốt. Bây giờ ông cứ về nhà, bọn mình đi đây.

          Chia tay cơ sở, bốn thanh niên với dáng hành khách chờ tàu, kéo nhau vào quán thịt chó.

          - Cho một phay, hai hoong và một chai quốc lủi - Mai Thạch nói cộc lốc: - Nhớ là là loại rượu đốt cháy cổ nha!.

          - Dạ, có ngay, có ngay - Người phục vụ quán nói liền miệng.

          - Nhanh nhanh lên kẻo tàu đến, dạ dạ mãi hết cả thời gian.

          Sau những tiếng cằn nhằn kiểu cao bồi của Mai Thạch, chủ quán mới bê ra được chai rượu và đĩa rau. Bỗng bên quán " Cây Si", Đinh Hẹn đứng dậy. Hình như phát hiện ra điều gì, hắn đi ra khỏi quán và đi về phía bãi gỗ. Mạnh Hải ra hiệu cho ba cán bộ chiến sĩ của mình rời quán, tỏa ra theo phương án đã vạch, bám chặt hắn.

          - Đinh Hẹn, mày đã bị bao vây!.

          Mạnh Hải chưa nói hết câu, thì hắn đã khom người quờ tay xuống cây gỗ, kéo khẩu súng AK lên, hướng về phía Mạnh Hải bóp cò. Một tràng đạn nổ vang rền. Mạnh Hải kịp nằm sát xuống bên một cây gỗ. Từ hai phía hai bên, các cán bộ của anh cũng nhằm về phía Đinh Hẹn nổ súng.

          - Chúng tôi đang chiến đấu bắt đối tượng có lệnh truy nã đặc biệt nguy hiểm, đề nghị mọi người nhanh chóng rời xa khỏi khu vực để tránh đạn!. - Mạnh Hải vừa nằm vừa dùng hai bàn tay làm loa nói với mọi người quanh khu vực ga Mông Ly.

          Cuộc đọ sức diễn ra mỗi lúc càng quyết liệt. Một bên là tên tội phạm quyết tiêu diệt bằng được các chiến sĩ công an để tẩu thoát. Còn các chiến sĩ cảnh sát hình sự chỉ được lệnh bắt sống, hoặc chỉ bắn bị thương nhẹ rồi bắt, vì hắn là con của một bà mẹ già đang " thập tử nhất sinh"!.

          - Vì người mẹ đang ốm nặng, đề nghị anh hãy buông súng đầu hàng - Mai Thạch ngước đầu lên hướng miệng về phía tên Đinh Hẹn kêu gọi: - Đảng và Nhà nước bao giờ cũng rộng lượng khoan hồng cho những ai biết ăn năn hối cải. Đinh Hẹn, anh hãy bỏ súng xuống đầu hàng đi.

          - Đầu hàng này! - Hắn vừa nói to, vừa hướng nòng súng về phía Mai Thạch bóp cò.

          Đoàng, đoàng, đoàng, đoàng...

          Một loạt đạn súng liên thanh vang lên chát chúa. Mai Thạch từ từ ngã xuống.

          - Th...ac..ch!...

          Mạnh Hải cất lên một tiếng gọi não lồng, rồi định thần, chĩa nòng súng K59 bắn một phát cực kỳ chính xác, găm viên đạn vào bả vai bên phải của Đinh Hẹn, hất khẩu súng AK ra xa. Hai chiến sĩ trẻ lập tức xông đến quật ngã hắn xuống đất, thu cả khẩu súng K54 trong người hắn.

          Phía Tây, mặt trời đã chuyển sang màu đỏ như một cái mâm lửa đang từ từ rơi xuống. Nhân dân cả vùng ga Mông Ly kéo đến vây quanh thi thể Mai Thạch. Mặt ai cũng đầm đìa nước mắt. Mạnh Hải giao nhiệm vụ cho hai sĩ quan trẻ dẫn Đinh Hẹn ra đóng vào thùng xe Uóat đưa về bệnh viện cấp cứu, rồi cùng bà con và nhân vien đường sắt đưa Mai Thạch lên tàu chở về Công an tỉnh. Cuộc tiễn đưa Mai Thạch hôm ấy đầy cảm động. Ngoài hàng trăm cán bộ chiến sĩ công an và cán bộ các ngành trong tỉnh, còn có hàng trăm người ở vùng rừng núi miền Tây về khóc nức nở, dâng hương cảm ơn các anh đã trả lại cuộc sống yên bình...

 

                                                          *

 

          Mới đó mà đã hai năm trôi qua. Cuộc đời của một sĩ quan cấp tá trẻ tuổi kết thúc quá nhanh, chẳng khác một ngôi sao đang sáng chói vừa băng xuống qua mắt anh. Bao kỷ niệm đẹp của một thời, hình ảnh của Mai Thạch, của buổi nhậu lai rai cuối cùng với Mai Thạch trong ngày ấy... cứ liên tục hiển hiện lên, làm cho Mạnh Hải không tài nào chợp mắt được.

          Mới năm giờ sáng mà Mạnh Hải đã dậy đánh răng rửa mặt. Anh định ra làng Hải Linh sớm để cùng gia đình lo lễ Đại tường cho Mai Thạch, nhưng vừa đẩy xe ra khỏi cửa, thì có một cô bé chừng mười tuổi chạy vào, vừa khóc, vừa nói:

          - Chú công an ơi... cứu mẹ cháu với!...

          - Mẹ cháu làm sao? - Mạnh Hải hỏi.

          - Dạ, hai mẹ con cháu đang chở nhau đi, thì bị một chiếc xe máy chạy cùng chiều đâm vào làm mẹ cháu ngã, rồi phóng chạy. Bây giờ mẹ cháu đang nằm bất tỉnh ngoài đường...

          - Nhà cháu ở gần đây không?.

          - Dạ, tận ngoài Hà Tĩnh. Bố cháu đã bỏ mẹ cháu lâu rồi. Hai mẹ con cháu vào đây kiếm sống... hu...hu...

          Mạnh Hải lại đẩy xe vào phòng, khóa cửa lại, đánh thức trực ban dậy căn dặn, rồi cùng cháu bé ra đường. Trước mắt anh là một người phụ nữ mới ngoài ba mươi, đang nằm sõng soài bên đường, trên đầu máu nhuộm ướt cả tóc. Sợ bị chấn thương sọ não, anh gọi một chiếc xe taxi chở cả hai mẹ con chạy thẳng vào Bệnh viện Trung ương Huế. Biết một mình cháu bé không thể lo chăm cho mẹ nó được, anh ở lại lo cho cháu ăn và cùng cháu chăm sóc bệnh nhân. Bên người phụ nữ đang hôn mê, Mạnh Hải nhớ về Thục Chi. " Mai Thạch ơi! Thông cảm cho tao với nhé, đằng nào thì mày cũng đã mồ yên mả đẹp. Còn người đàn bà này nếu mình bỏ rơi, chắc chắn thần chết sẽ cướp ngay. Lúc nào ra, tao sẽ ra mộ mày thắp hương gấp hai ba lần. Sống khôn, thác thiêng, mày hãy giúp tao làm cho ba, mẹ và Thục Chi đừng trách, đừng giận tao nhé...". Mạnh Hải bần thần, miệng nói một mình như đọc thần chú. Rồi anh ngã đầu lên thành ghế ngủ thiếp đi. Tỉnh dậy, anh bỗng thấy Thục Chi đứng bên cạnh.

          - Sao em biết anh ở đây mà tìm? - Mạnh Hải nhìn Thục Chi hỏi với giọng nhẹ nhàng, như cầu mong Thục Chi tha lỗi.

          - Dạ, mấy anh trong phòng của anh ra thắp hương cho anh Mai Thạch kể lại. Lo việc xong là em xin phép bố mẹ đón xe đi liền. Thấy anh ngủ quá say và nghe con bé nói mới ngủ, nên em không gọi. Áo quần của chị ấy em đã giặt. Có cháo gà nóng em mới mua vào đó, anh ăn đi. Cô cháu em đã ăn rồi - Vừa nói, Thục Chi vừa bê cháo lại đưa cho Mạnh Hải.

          - Có giận anh không? - Mạnh Hải lại hỏi.

          - Chỉ buồn thôi. Nghe chuyện, bố mẹ cũng lo và bảo em đi ngay để vào có việc gì giúp anh.

          - Không còn cách nào khác em ạ!. Khi đưa chị ấy vào, chẩn đoán và chụp cắt lớp xong, các bác sĩ nói: " Chỉ cần chậm một tiếng đồng hồ là chị ấy không qua khỏi".

          - Vậy đầu chị ấy có việc gì không anh?.

          - Bác sĩ nói là đã hút hết máu đọng, chỉ cần qua một đêm nay nữa là an toàn.

          - Mừng cho chị ấy quá anh ạ!. Sáng nay có cả ba mẹ của anh cũng về thắp hương cho anh Mai Thạch. Bốn ông bà cứ ngồi bàn chuyện với nhau say sưa lắm...

          - Không khéo các cụ lại bày mưu tính kế bắt chúng mình làm lễ cưới đó! - Mạnh Hải cướp lời...

          - Ứ, anh thì...

          - Thì sao?. Không ưa à?...

          - Ưa này! Ưa này!...- Thục Chi vừa nói vừa đấm thùm thụp vào vai anh: - Mà anh này, các anh trong phòng nói là đã bắt được thằng xe thồ đâm vào chị này rồi đó.

          - Thật sao?.

          - Thật. Nghe nói cảnh sát 113 và Công an thành phố khi nhận được điện của anh, liền xuất quân phong tỏa và hắn đã bị bắt ngay trong một quán ăn sáng. Các anh thật quá giỏi.

          - Công an thì ai mà chẳng giỏi!...

          Đùa nhau trong chốc lát. Mạnh Hải bảo cháu bé trực canh mẹ, rồi nắm tay Thục Chi đứng dậy, ra bờ Sông Hương. Hai người chọn chiếc ghế đá đặt sát mép nước, ngồi xuống. Vẫn là con sông nổi tiếng đẹp và thơ mộng, hồi Bình Trị Thiên hợp nhất, Thục Chi đã được anh trai và Mạnh Hải dắt đi dạo chơi hàng chục lần, nhưng hôm nay ngồi bên cạnh nó, sao trong người cô vẫn thấy có cảm giác là lạ!. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời cô thấy vui sướng nhất. Niềm vui sướng sau bao năm chờ đợi. Mạnh Hải giang tay ôm chặt lấy cô. Hai người nhìn nhau đắm đuối, rồi bốn làn môi dán chặt nhau. Nụ hôn đầu sao mà mặn nồng, ấm áp, ngọt ngào và có sức hút kỳ diệu, như không tài nào dứt ra được. Bỗng Thục Chi bật khóc. Những giọt nước mắt thấm vào vai Mạnh Hải. Mặt đất như cũng rung động, chồng chềnh bên mặt nước...

 

                                                                             Tháng 3 năm 1999

 

 

 

 

 

 

 

 

TOẠI NGUYỆN

 

       Nữ quản giáo Lê Hồng Anh đang mãi mê tìm diệt những con sâu trên cây xoài mới bói quả, thì chiến sĩ trực trại chạy đến báo tin:

          - Huyện Lệ Thủy vừa mới đưa đến một bị can cô ạ!.

          - Trai hay gái? - Hồng Anh hỏi.

          - Dạ gái, chưa thành niên cô ạ.

          " Chắc lại là nạn nhân của cái "chợ tình đồng nội " quỉ quái ấy.Hồng Anh vừa đi vừa nghĩ với vẻ mặt căm giận. Trước mắt cô là một cô bé chừng tuổi 16, có khuôn mặt trái xoan, đôi mắt bồ câu long lanh, tóc ủ xù, áo quần rách vài chỗ. Mạt con bé rất đôn hậu, nhưng lanh lợi và rất thông minh, từng trải. Hồng Anh đưa tay về phía con bé nhẹ nhàng nói:

          - Lại đây cháu!.

          Con bé sợ sệt, mở to đôi mắt chiếu về phía Hồng Anh và đi giật lùi. Một chiến sĩ công an huyện đưa tay ấn vào vai con bé, lớn tiếng:

          - Đi đi! Kẻ cắp mà còn sợ  nữa à!.

          - Đừng nặng lời với cháu - Hồng Anh nhẹ nhàng: - Đừng sợ, lại đây với cô nào!.

          Hơn hai mươi năm làm công tác quản giáo đã để lại trong người cô quá nhiều kinh nghiệm trong việc giáo dục con người. Kinh nghiệm rút ra từ đồng đội, từ bản thân, không cho phép người quản giáo nóng tính. Đa số những người được đưa vào trại đã đông cứng tính cách liều mạng, lì lượm, bất cần, chán đời, nếu không tìm cách làm tan nó ra thì khó mà cải tạo được họ.

          Đưa con bé vào phòng làm việc, Hồng Anh lấy ly thủy tinh pha một cốc nước lọc đưa cho nó. Nó đưa tay nhận, rồi uống một hơi cạn ly.

          - Uống nữa không cháu?.

          - Dạ không.

          - Cháu tên là gì?

          - Tên Dậu.

          - Gì Dậu?.

          - Hoàng Thị Dậu - Nó cứ trả lời cộc lốc.

          - Gia đình cháu ở xã nào?.

          - Xóm Lòi, Minh Thủy.

          - Ba mẹ cháu làm gì?.

          - Dạ...

          Con bé ngập ngừng, rồi cúi gầm mặt xuống, từ đôi mắt bồ câu từng giọt lệ tuôn rơi. Biết là đã chạm phải một điều gì đó không vui với nó, Hồng Anh gọi cán bộ trực trại vào bảo đưa bé Dậu vào phòng ở, rồi chăm chú nghiên cứu từng trang hồ sơ.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          Đến bây giờ nó vẫn không thể hình dung ra khuôn mặt thật của mẹ. Nghe bà con kể lại thì hồi ấy mẹ nó đẹp nhất làng và hát hay nhất đội văn nghệ xã. Cả gia đình đang ăn yên, ở yên tại làng Thượng Xá ven đường, thì có chủ trương quy hoạch lại đồng. Toàn làng phải lên đồi để cánh đồng thẳng cánh cò bay!. Mới chuyển nhà lên Xóm Lòi, công việc bề bộn. Ngày hai buổi theo việc đội sản xuất, ba mẹ Dậu lúc nào cũng tranh thủ phát đồi cuốc đất khai hoang, mở rộng vườn. Rồi một đại họa ập đến. Một quả bom bi trong chiến tranh sót lại nổ đã kết thúc cuộc đời của mẹ. Lúc ấy bé Dậu mới năm tháng tuổi. Bấy giờ cuộc sống chung quá khó khăn. Mọi người đổ sức làm đủ cách, đủ kiểu vẫn chưa đủ ngày hai bữa sắn khoai. Hậu quả chiến tranh nặng nề, mà làng của Dậu thuộc vào loại làng nghèo nhất nhì huyện. Cha Dậu vẫn gắng sức kiếm lấy vài bát gạo, để nấu cháo loãng thay sữa nuôi con. Đời sống nghèo túng cứ lần lượt trôi theo thời gian và con người cứ kiên cường dai dẳng vươn lên. Dậu lớn dần và được ba cho đi học. Trường của Dậu xa lắm, cách nhà đến hơn hai cây số, nhưng ba bảo " muốn sau này sướng thì phải vượt khó mà học cho giỏi". Dậu tin vào lời ba, nên học giỏi lắm. Bà con trong làng ai cũng thương Dậu.

          Dần dà, làm ăn được, ba Dậu đã làm lại được cái nhà gỗ hai gian. Cái giếng ba Dậu đào nước ngọt lắm. Người làng bên đi củi ai cũng vào xin nước uống. Họ cứ múc nước từ dưới giếng lên là ngửa cổ uống ừng ực mà chẳng ai đau bụng. Trong số họ có cô Cần hầu như ngày nào cũng vào. Người cô không đẹp, áo quần mang luộm thuộm, được cái là mau miệng và siêng năng. Đặt gánh củi xuống bên đường, là cô vào giúp Dậu làm đủ mọi việc. Vừa làm, cô vừa nói đủ chuyện huyên thuyên trên đời.

          - Ngày nào cũng đi củi thì đun sao hết được cô? - Dậu hỏi.

          - Cô đi về để bán. Mỗi gánh cũng kiếm được hơn chục ngàn.

          - Thế thì mau giàu cô hí!.

          - Giàu sang chi cháu, làm để đổi lại cái ăn ấy mà.

          - Thế chồng của cô đâu mà cô lo một mình?.

          - Chồng cô trước là lái xe, cũng kiếm được nhiều tiền lắm, nhưng mỗi tội rượu chè bê bết suốt ngày, đã không cho vợ được đồng nào, mà rước bệnh vào thân, qua đời hơn ba năm rồi.

          - Cô được mấy anh chị rồi?.

          - Chưa có đứa nào, buồn lắm.

          Có cô ghé lại thường xuyên, hai cha con Dậu vui thêm. Có lần ba Dậu bắt đâu được mấy con cá lóc to lắm. Cô xắn tay áo, lấy dao, thớt giúp làm ngay. Cô làm cá nhanh và kho nấu cũng rất ngon. Bữa đó, ba Dậu mời cô cùng ở lại ăn cơm. Nhìn cô, Dậu cứ thèm có người mẹ quá. Không ngờ, ước muốn ấy bỗng thành sự thật. Dậu thấy cái bụng của cô ngày càng to ra. Một hôm, ba Dậu đưa tay vuốt lên đầu Dậu nói:

          - Con sắp có em rồi đó!.

          Dậu ngạc nhiên hỏi:

          - Em ở đâu ra ba?.

          - Ở cái bụng cô Cần ấy - Ba Dậu cười và nói: - Con cho ba lấy cô ấy làm vợ nghe!. Nếu con nhất trí thì từ nay con gọi cô ấy bằng mẹ nghe!.

          Thương ba một mình vất vả, tuổi đời còn trẻ mà phải sống cảnh gà trống nuôi con, hơn nữa có nói gì đi nữa, thì ba và cô ấy đã sắp có con với nhau, nên Dậu đành lặng lẽ chấp nhận. Rồi cô Cần xách va ly đến ở nhà Dậu. Đêm đêm ba ngủ với dì. Dậu một mình với chiếc giường tre, hết học lại ngủ. Dù có thêm người trong nhà và từ ngày có cô Cần đến, đời sống trong gia đình có khá hơn, nhưng Dậu vẫn cảm thấy đơn độc, cảm thấy nhớ và thương mẹ nhiều hơn. Tình cảm của ba bị san sẻ. Sự quan tâm của ba đối với Dậu dường như bị giảm bớt dần. Nhất là từ khi dì Cần sinh ra được một em trai, thì suốt ngày ba chỉ quấn quýt bên dì và em. Dậu buồn lắm. Từ đó, ngoài những công việc thường ngày như lâu nay, Dậu còn phải bồng bế, chăm sóc em. Ngược lại với những an ủi, động viên, khuyến khích học giỏi trước đây, bây giờ, lý do này, lý do khác, ba thường buộc Dậu bỏ học để trông em. Nhiều lúc Dậu còn bị ba và dì đánh vì em khóc, vì em bị ngã, vì lý do bận chăm em mà nấu cơm muộn... Nước mắt hầu như bị cạn kiệt. Dậu buồn tủi bỏ nhà đi lang thang, bữa no, bữa đói thất thường. Để có cái ăn, cái mặc, Dậu sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà mình có thể làm được, nhưng thân gái mồ côi, nghèo khổ và yếu ớt giữa cơ chế thị trường, chẳng có việc gì để Dậu làm nên nổi. Dọn bàn, rửa bát cho hàng quán thì canh đổ, bát vỡ, đành phải lủi thủi bỏ đi sau những lời chửi mắng của chủ quán. Thế là em phải nhập bọn với chai bao, nhôm, nhựa vừa làm, vừa thực thi những phi vụ chôm chỉa của những gia đình sơ hở. Nhiều lần bị chủ nhà bắt được đánh cho thâm mặt, rách da, nhưng sau trận đòn ấy, Dậu vẫn chẳng còn con đường nào khác, lại đành nhắm mắt làm liều. Cú liều cuối cùng là rút được chiếc ví của một con buôn đang chờ xe, tiền nhiều lắm, nhiều có thể sống được vài năm, nhưng bị bắt quả tang.

 

                                                          *

 

                                                *                 *

 

          Mắt Hồng Anh như bị nhòa đi. Cô bỗng nấc lên một tiếng, rồi òa khóc. Những giọt nước mắt liên tiếp rơi lộp độp trên những trang hồ sơ ghi tội lỗi của Dậu. Chỉ có những người cùng cảnh ngộ mới xót cả lòng. " Mồ côi khổ lắm ai ơi!. Đói cơm rách áo...". Một nhạc sĩ nào đó đã viết như vậy và các ca sĩ cũng đã gào thét lên như vậy, não cả ruột gan.

          Chiến tranh đã cướp mất người cha kính yêu của Hồng Anh khi cô chưa tròn năm tuổi. Bao khổ cực dưới mưa bom bão đạn quân thù cứ đè lên người mẹ, mà mẹ vẫn kiên cường gắng gượng nuôi con ăn học. Hồng Anh học giỏi lắm, lại có cả năng khiếu văn nghệ nữa. Mới học lớp sáu, lớp bảy mà Hồng Anh đã theo các anh, các chị trong đội văn nghệ xã đi biểu diễn cho bộ đội và thương binh xem suốt cả đêm. Có khi đi xa ba, bốn cây số, khuya về ăn bát cơm nguội với muối vừng, vừa đưa sách vở ra học. Các chú trong Ban quản trị hợp tác xã rất thương mẹ con cô. Mỗi lần cô đi tham gia văn nghệ, mẹ đều được vài công điểm, được nhận thêm lúa, thêm sắn khoai. Tốt nghiệp cấp hai, Ủy ban xã có ý giữ Hồng Anh lại để làm cán bộ xã, nhưng mẹ vẫn khăng khăng van nài xã cho cô đi thi vào học cấp ba.

          Hồi ấy, trường cấp ba đóng cách xã hơn mười lăm cây số đường rừng. Ngày chủ nhật, thân con gái như Hồng Anh vẫn về nhà và theo đám con trai vào rừng chặt gỗ về làm hầm tránh bom đạn máy bay Mỹ cho mẹ, rồi tiếp tục vác một bao nửa gạo, nửa sắn băm nhỏ, nhét thêm một ống nhựa đạn 37 ly đựng đầy muối vừng, lội suối, băng rừng ra trường. Nhiều lần đang đi, cả tốp lọt vào điểm đánh của máy bay địch. Bom nhỏ, bom to, bom sát thương, đạn rốc két, bom bi chúng đổ liên tục xuống mặt đất. Tiếng bom đạn nổ như xé cả tai. Cả vùng luôn rung lên. Mảnh bom bay vèo vèo trên đầu, nhưng chẳng có ai sợ, mà cũng chẳng có ai chết. Có lần bận lao động, không về nhà được, thương nhớ mẹ, mắt luông hướng về quê, lại thấy máy bay đánh trong ấy liên tục. Đang nóng lòng, sốt ruột, thì năm giờ chiều Chủ nhật, con Lan vừa trong quê ra nói: " Mẹ Hồng Anh đã bị chết". Đau lòng lắm và nghĩ rằng chẳng thiết học với hành nữa, cô một mình bỏ trường, bỏ lớp, băng rừng, lội suối, xuyên đêm tối, chạy như bay về nhà, nhưng đó chỉ là lời nói đùa quá ác độc. Hai mẹ con ôm nhau khóc tưởng vỡ cả căn hầm, rồi theo lời động viên của mẹ, bốn giờ sáng cô dậy và một mạch chạy trở lại trường để kịp học. Cô học hết cấp ba, học hết Trung cấp công an, trở về Công an tỉnh công tác được năm năm, lại thi vào học trường Đại học cảnh sát. Sự đam mê học đã cuốn tuổi thanh xuân của cô lùi vào dĩ vãng. Khi ra trường, với hàm thiếu tá, thì cùng trang lứa đã có chồng, có vợ, nhiều đứa sắp lên chức ông, chức bà. Thôi thì đành chấp nhận cô đơn. Hồng Anh dành dụm và xin một mảnh đất gần trại, xây cất một căn nhà hai gian, phòng khi về nghỉ.

          Cô lấy khăn lau khô nước mắt trên mặt, rồi một mạch đi đến phòng giam nữ. Chiến sĩ trực trại vội vàng đến đứng trước mặt Hồng Anh hỏi:

          - Dạ, cô cần gì ạ?.

          - Cho tôi gặp con bé Dậu vừa vào trại ấy.

          Chiến sĩ trực trại " dạ" một tiếng rồi rút trong túi quần ra một chùm chìa khóa mở phòng. Từ ngoài cửa nhìn vào, Hồng Anh thấy con bé đang nằm co ro, run run, vẻ khiếp sợ. Nó lấm lét liếc mắt nhìn về phía Hồng Anh.

          - Dậu, ra đây cô bảo! - Hồng Anh gọi.

          Nó vẫn nằm lì trên giường.

          - Đi kìa!. Cán bộ gọi mà không nghe à! - Một phụ nữ to béo lại cầm tay nó xách dậy và đẩy nó ra.

          Hồng Anh đưa tay dắt bé Dậu về phòng của mình.

          - Sao cô gọi mà con không ra? - Hồng Anh nhẹ nhàng hỏi.

          - Dạ, cháu sợ!.

          - Sợ gì?.

          - Mấy cô trong phòng cháu ác lắm. Từ khi cháu vào, mấy cô đánh cháu mấy đợt rồi. Vừa đánh, mấy cô ấy bảo: " Đã vào đây thì phải theo bọn tao, bép xép với cán bộ, là không còn xác về nhà đâu". Họ đánh đau lắm. Hu...hu...- Bé Dậu bật khóc nức nở.

          Dậu kéo áo lên. Sau lưng nó đầy vết cào cấu còn rỉ máu. Hồng Anh mở ngăn kéo lấy một cuộn bông và cồn bóp các vết thương cho nó, rồi dắt nó về nhà riêng, lấy nước cho nó tắm rửa sạch sẽ. Những cử chỉ ấy dội vào trong đầu nó bao suy nghĩ. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời nó được một người đàn bà âu yếm. Lần đầu tiên nó được tắm xà phòng thơm, được gội đầu bằng thứ nước trên ti vi quảng cáo mà nó được xem ở nhà hàng. Nó cứ đưa tóc và tay lên mũi ngửi. Cả người nó bây giờ chỗ nào cũng thơm. Nó được mặc cả áo quần hoa cô cho, tuy cô đã mặc, nhưng đối với nó vẫn còn rất mới. Biết nó đói, Hồng Anh pha hơn một gói mì " Hảo hảo", đập thêm một quả trứng gà. Nó ăn một hơi không nghỉ, rồi xin cô lên giường đẩy luôn một giấc, không biết gì trời đất. Lúc ấy mà nhìn nó thật kỹ, chắc chắn không ai nghĩ là tội phạm. Đáng thương lắm, hiền lành và đôn hậu lắm, chẳng qua cùng đường, phải kiếm kế sinh nhai mà thôi.

          Mặc cho nó ngủ. Hồng Anh khép cửa, khóa lại, rồi ra vườn hướng dẫn trại viên trồng rau. Khi cô trở về nhà thì Dậu cũng vừa thức dậy. Nó bước chân xuống giường, chạy đến trước mặt Hồng Anh, quỳ xuống, ôm chặt lấy chân cô nói:

          - Cô ơi! Cô cho cháu ở lại đây với!...

          - Bây giờ thì chưa được, cô chỉ mong cháu hãy từ bỏ con đường cũ. Làm những việc ấy xấu xa lắm, xã hội và mọi người ghét và khinh bỉ lắm. Cháu có biết như vậy không?.

          - Dạ cháu biết.

          - Biết thì phải sửa gấp để trở thành người tốt. Nếu cháu có quyết tâm và hứa với cô như vậy, thì cô sẽ sẵn sàng giúp đỡ cháu.

          - Dạ cháu hứa.

          - Bây giờ thì phải về trại đã, cô sẽ tính sau.

          Cánh cửa sắt lại mở một lần nữa. Hồng Anh đưa Dậu vào phòng giam. Lúc đi ra, cô không quên răn đe những người trong phòng, nhưng vừa mới đi được một đoạn, thì từ trong phòng con bé đã thét lên. Cô quay lại, ghé mắt nhìn qua khe cửa thấy vẫn người đàn bà to mập ấy túm tóc Dậu day day vào tường chì chiết:

          - Cũng là tù nhân cả mà mày được ưu đãi nhỉ. Ăn được thì chịu được này!. Bay đâu hãy đánh cho nó nôn cục sướng ra!.

          - Dừng lại!. - Hồng Anh thét lên.

          Mấy người đàn bà luống tuổi dừng tay, nhìn nhau cười như những con điên. Dậu vẫn ôm mặt khóc nức nở. Hồng Anh một mạch chạy lên phòng giám thị trại.

          - Thưa anh... - Hồng Anh vừa thở vừa nói: - Con bé Công an Lệ Thủy vừa đưa đến lúc sáng e chết mất...

          - Sao?. Vì sao mà chết? - Giám thị hốt hoảng cắt lời.

          - Dạ, bọn kia đánh nó dữ quá, mà bây giờ chúng ta không còn phòng riêng nào cả.

          - Theo cô có cách nào khác không?.

          - Dạ, em nghĩ... em nghĩ...

          - Nghĩ sao?...

          - Hay là anh cứ cho nó về ở với em. Hàng ngày nó vẫn làm việc của trại, trưa và tối về nhà em ở...

          - Ăn ở với phạm nhân, cô không sợ bị kỷ luật à?.

          - Em vẫn biết là như vậy, nhưng thương nó quá. Đời của nó cũng bi đát lắm anh ạ!. Cuộc đời tủi nhục đã đẩy nó vào con đường tội lỗi. Em tin nó là con người tốt. Hay là anh cho em bảo lãnh chăm sóc, giáo dục nó đi.

          - Làm cán bộ thực thi pháp luật mà nói nghe êm nhỉ!. Thôi được, đêm nay cứ tạm thời cho nó ở với cô, có việc gì xảy ra cô phải chịu trách nhiệm. Ngày mai, tôi sẽ xin ý kiến của lãnh đạo và Viện Kiểm sát rồi tính tiếp. Nhớ là phải giữ nó thật chặt nha!.

          - Vâng ạ!.

          Cánh cửa sắt lại mở. Dậu chạy ra ôm chặt Hồng Anh.

          - Cứu cháu với cô ơi! - Nó nói trong tiếng nấc.

          - Cháu có biết vì sao mà phải nông nỗi này không?.

          - Thưa cô, cháu biết rồi ạ. Từ nay cháu xin chừa. Cháu xin thề với cô là không bao giờ làm những việc xấu xa như vậy nữa!. Xin cô cho cháu về ở với cô!...

          Nó cứ liên tục van xin. Nhìn nó, nước mắt Hồng Anh lại trào ra. Cô dắt nó về nhà, cho nó tắm lại, rửa trôi bụi đất sau những trận đòn, rồi hai cô cháu cùng nấu ăn. Cơm nước xong, cô cháu bật ti vi xem. Mắt nó như dán chặt vào màn hình. Nhìn nó xem say đắm, Hồng Anh hỏi:

          - Lâu nay cháu có hay xem ti vi không?.

          - Dạ, mới được hai lần ở quán cháu làm thuê, nhưng vừa xem vừa làm, cái được, cái mất, chán lắm.

          - Cháu có nhớ ba không?.

          - Dạ có ạ.

          - Nhớ thì phải cố gắng làm thật tốt những việc trại giao, để sớm được ra trại về với ba nghe.

          - Không! - Nó hốt hoảng, giang tay ôm chặt Hồng Anh: - Cháu không về đó nữa đâu. Ba đã có dì và em trai, không thương cháu nữa đâu. Cháu về để ba và dì đánh à!. Cô cho cháu ở lại với cô nghe. Cháu sẽ ngoan...

          Hết chương trình truyền hình, nó ôm Hồng Anh nằm ngủ. Hồng Anh cũng ôm chặt lấy nó. Căn nhà nhỏ bé, lạnh lẽo lâu nay giờ bỗng thấy ấm cúng lạ thường, nhưng Hồng Anh vẫn không tài nào ngủ được. Bao khát vọng bổng trào dâng trong người cô. " Ước gì mình có được một đứa con luôn bên cạnh như vậy". Cô thầm ước và luôn đưa bàn tay vuốt nhẹ lên đầu Dậu. Nổi khát khao cứ mãi bốc lên. Lúc còn tuổi sinh nở, bao lần Hồng Anh định gọi liều một người đàn ông nào đó, để được quyền làm mẹ, nhưng không tài nào thực hiện được. Để rồi... đến bây giờ mới được ôm ấp một đứa bé trong lòng...

          Sáng dậy, sau khi giải quyết xong hai tô mì tôm, Hồng Anh dắt Dậu đến gặp một nữ phạm nhân tự giác.

          - Từ nay, cô dạy cho cháu này tập may với nghe - Hồng Anh nói với người nữ phạm nhân.

          - Thưa cán bộ!  Em sẽ đem hết khả năng bày vẽ cho nó biết cắt may tốt ạ- Người nữ phạm nhân trả lời.

          - Muốn sau này khỏi thất nghiệp cháu phải chăm chú học cô ấy nhé! - Hồng Anh nói với Dậu: - Học tốt nghe, cô ấy bảo gì phải làm theo...

          - Con bé này vẻ thông minh, chắc học nhanh lắm cán bộ ạ.

          Giao bé Dậu cho nữ phạm nhân, Hồng Anh phóng xe máy vào chợ tìm mua áo quần và một số tư trang cho nó, khi quay về đến trại thì gặp giám thị.

          - May quá!. Quản giáo đây rồi - Giám thị xởi lởi.

          - Có việc gì mà vui vậy anh?.

          - Thế là cô đã toại nguyện rồi nha!. Đơn bảo lãnh của cô đã được Giám đốc và Viện kiểm sát nhất trí rồi. Kể từ ngày nay, con bé Hoàng Thị Dậu không phải là phạm nhân nữa rồi, cố gắng thực hiện tốt trách nhiệm của mình nha!...

          - Dạ, em cố gắng. Mà anh này, từ nay, em cho nó học may trong trại mình với nghe. Về nhà em sẽ kèm nó học thêm văn hóa. Bây giờ em sợ khi trưởng thành nó truột khỏi tay quá!...

          - Ừ, chấp nhận tất, miễn là nó sớm trở thành người tốt.

          Tình cảm giữa Hồng Anh và con bé Dậu ngày càng thắt chặt, mặn mà hơn. Nó đã chủ động xin gọi Hồng Anh bằng mẹ. Mới ba tháng mà nó đã biết tự cắt may được các loại áo quần đơn giản. Hồng Anh mua cho nó một bàn may năm con bướm đặt trong nhà và luôn nhận hàng gia công về cho nó may. Nó chăm chú làm suốt ngày đêm, trừ khi Hồng Anh buộc nó đi dạo chơi hoặc đi tắm biển cùng cô, nó mới chịu lên ngồi trên xe đi. Cuộc sống trong nhà Hồng Anh ấm cúng dần lên. Sau bao tháng san sẻ đồng lương của mình nuôi Dậu, bây giờ Dậu đã làm được tiền. Có tháng nó thu hơn cả triệu bạc. Một hôm nó ngồi may rất khuya. Đêm đang tĩnh mịch, bỗng nó nghe tiếng loạc xoạc. Nó nhẹ nhàng bước ra cửa. Dưới ánh trăng mờ cuối tháng, nó nhìn thấy bên kia tường của trại có một bóng đen hình người. Nó vào lay Hồng Anh dậy, nói nhỏ:

          - Mẹ ơi! Có cái gì trên tường trại.

          Hồng Anh liền chạy ra. Biết là có kẻ đang tìm cách trốn trại, cô vào nhà xách khẩu súng AK băng xếp chạy đi. Dậu cũng chạy theo. Đến gần tường, cô cầm cần qui lát lên đạn và hô to:

          - Đứng yên!. Chạy là tao bắn!.

          Cô bắn một phát súng chí thiên báo động. Tiểu đội vũ trang của trại nhanh chóng chạy đến bao vây. Kẻ trốn trại bị bắt. Hắn là tên tội phạm giết người cướp của, đã bị xử mức án tử hình, đào tường buồng giam, định trèo tường tẩu thoát, nhưng bị bé Hoàng Thị Dậu phát hiện. Cả Hồng Anh và bé Dậu đều được Chủ tịch tỉnh tặng bằng khen về chiến công này. Dậu còn được các chú nhà báo viết bài đăng báo và đưa lên ti vi nữa. Ngồi xem những hình ảnh mình diễn tả lại ở hiện trường trên ti vi, hai mẹ con Hồng Anh và Dậu ôm nhau cười, tưởng như đứt cả ruột.

                                                                            

 

                                                                                      Tháng 7 năm 2005

 

 

 

 

 

 

TRANG TRẠI ĐỒNG ĐỘI

 

          Thế là ông ấy đã ra đi. Toàn thân của ông bị xé ra từng mảng sau một tiếng nổ chói chang của một quả bom bi, do giặc Mỹ ném xuống trong chiến tranh còn sót lại. Bên cạnh ông là con chó và mấy con gà cũng bị bom chết phơi mình. Cả gia đình ông nằm, ngồi khóc vật vã. Tiếng khóc như xé nát cả vùng đồi và bầu trời. Bà con ruột thịt và trong thôn tìm nhặt xác ông rửa sạch bỏ vào chiếc quan tài sơn son, vẽ rồng vàng, rồi đưa tiễn ông đi theo tổ tiên trên vùng đồi ấy.

          Ông ra đi để lại một người vợ góa mới ngoài tuổi năm mươi, còn đẩy đà, lúc nào cũng son phấn tươi rói, với cái quày bán tạp hóa trong ngôi nhà ba tầng, ở mặt tiền của một trục đường chính của thành phố. Hai đứa con vừa " nếp" vừa " lòn" của ông đã thành đạt. Có đứa đã thành tiến sĩ. Đứa nào cũng có chức vị ở cơ quan và nhà riêng cao sang. Tất cả đều là do ông tạo ra cả.

          Ông xuất thân từ một gia đình nghèo nhất của cái làng nghèo nhất huyện. Ba đời toàn đi ở làm thuê cho kẻ giàu sang. Có cách mạng thành công, bố mẹ ông mới được chia ruộng đất và làm được một mái nhà tranh vách đất bên một dòng sông, mà hàng ngày ngoài thời gian làm đồng, ai cũng đổ xô xuống cào hến về làm thức ăn. Nhờ cái đức lam lủ, cần cù, chịu khó làm ăn và cầu mong tiến bộ theo lời Đảng dạy của cha mẹ, mà ông và hai đứa em gái của ông được cắp sách đến trường và học đến nơi đến chốn. Mới học hết lớp tám của trường huyện, nhưng cái thành phần bần cố nông, lý lịch tốt, nên ông được cho đi học dự bị đại học Thủy sản. Hồi ấy cái lý lịch quan trọng hàng đầu. Con cái mang thành phần trung nông còn được châm chước, còn con địa chủ, phú nông thì học giỏi mấy cũng phải quay về quê cuốc đất làm vườn, không được đi đâu, kể cả đi bộ đội. Ông vào trường đại học được hai năm, thì theo tiếng gọi của Tổ quốc, lên đường nhập ngũ. Sau gần sáu năm chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, ông mới được trở lại mái trường thân yêu của mình ở thủ đô, với một vết sẹo dài trên cánh tay phải và tấm thẻ thương binh 2/4. Tuy học không giỏi và tất cả kiến thức đã gửi lại chiến trường, nhưng rồi ông cũng được tốt nghiệp, nhờ tấm thẻ ưu tiên và trở thành người đầu tiên có bằng đại học của làng Xơ Mướp ngày ấy.

          Thời ấy, ở mảnh đất " Ô Châu" này, đội ngũ kỹ sư ở tỉnh còn hiếm lắm, nên ông liền được cử ngay làm một chân phó trưởng phòng của Ty Thủy sản. Trình độ chưa nói, nhưng cái bản chất cần cù, chịu khó, biết lo, biết nghĩ của ông thì sẵn có từ đời ông cha. Với ông đúng là nói đi đôi với làm. Lấy cần cù bù khả năng, ông nghiên cứu tài liệu suốt cả đêm. Ông thường xuyên về với các làng biển xem xét, kiểm tra, hướng dẫn bà con ra khơi, đi lộng. Ông hòa mình với ngư dân, với các công nhân chế biến thủy sản. Có lần ông lên thuyền của hợp tác xã ra khơi để nghiên cứu, tìm cách đánh bắt, say sóng, nôn ọe, tưởng chừng ném cả mật ra làm mồi cho cá. Vậy mà không lâu, ông trở thành một kình ngư, nhiều người hoạt động lâu năm trên biển khó sánh kịp. Tuy là một cán bộ cốt cán của Ty, nhưng khi trong tỉnh gặp việc gì khó khăn phức tạp trên sông biển là ông phải đi thực thi theo điều động. Cả tỉnh chỉ có chưa đến năm người giỏi như ông. Một lần dây kéo sắt để rà phá bom từ trường và thủy lôi của đội phá bom trên phà Gianh bị vướng cánh bom từ trường. Lúc bấy giờ, nếu không phá được bom giữa sông, thì giao thông vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam bị tắc. Trước mắt là hai bên bến phà có hàng trăm chiếc xe chở quân và chở hàng đang chờ. Ai cũng biết rằng người lặn xuống tháo dây bị vướng chỉ có 10% phần sống trở về với gia đình. Không chần chừ do dự, ông xung phong giải quyết công việc mạo hiểm ấy. Trước khi lặn xuống sông, ông được làm một cái lễ truy điệu sống, có cả lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và các cơ quan, đoàn thể dự. Ông từ từ lặn xuống. Trái tim của mọi người đứng trên bờ dần dần bị nén chặt. Tức thở. Hồi hộp. Lo âu... Không khí trên hai bờ sông Gianh như nặng hàng ngàn tấn phủ lên mọi người. Thế mà ông đã thoát. Cái đầu ông ngoi lên khỏi mặt nước, như một cái van khổng lồ được mở, làm cho không khí nặng nề tan ra. Trong người của những người đứng trên bờ ai cũng nhẹ như đang bay bổng. Tất cả mọi người đều chạy ùa xuống ôm chặt lấy ông. Thay lại buổi lễ truy điệu sống, là một lễ tuyên dương thành tích đầu bờ. Ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có mặt hôm đó đã cao giọng:  "Hành động và tinh thần quả cảm của đồng chí Nguyễn Canh Dần đã làm sáng thêm chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Quảng Bình " Hai giỏi". Đồng chí xứng đáng là tấm gương sáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước...". Sau trận ấy, ông được tặng Huân chương chiến công hạng ba, được đi dự Hội nghị chiến sĩ thi đua toàn ngành và được phát động toàn tỉnh học tập. Theo đà, ông liên tiếp lập được rất nhiều chiến công trong chiến dịch vận chuyển hàng vạn tấn hàng vượt qua mưa bom bão đạn của quân thù ở Hòn La và được bổ nhiệm làm Phó trưởng Ty của một ngành khác, rồi lên Giám đốc suốt cả thời gian Bình Trị Thiên sát nhập, đến khi nghỉ hưu ở tỉnh mới tái lập.

          Nói đến ông là nói đến tấm gương mẫu mực. Điều mà mọi người ai cũng mong làm sao mình được như ông là sức khỏe. Có lẽ do sự cần cù, chịu khó, lăn lộn, hoạt động nhiều, nên đã qua một hoa giáp, nhưng nhìn ông lúc nào cũng như một lực sĩ. Khuôn mặt vẫn cứ đầy đặn. Hai má căng đánh bật những nếp nhăn. Da lúc nào cũng hồng hào. Còn tứ chi thì vẫn cuồn cuộn căng bắp thịt. Vợ đẹp, con ngoan, đã có nhà cao cửa rộng, nhưng còn được ít tiền dành dụm, ông tìm mua một vùng đồi làm trang trại. Lúc đầu, chủ trương này của ông, đã trở thành một cuộc đấu tranh gay gắt trong gia đình. Vợ con và các cháu của ông nhất quyết không tán thành, vì sợ ông lên đó buồn và vất vả, làm cho tình cảm gia đình hàng ngày bị thiếu hụt. Còn ông thì cương quyết. Với ông, làm trang trại không phải để lợi vụ, không phải để làm giàu, mà làm nơi dưỡng lão, giải thoát khỏi ô nhiễm bụi bặm và tiếng ồn ở mặt tiền đường phố. Trang trại là nơi để ông được hít thở không khí trong lành, để ông " túc tắc" lao động chân tay thay cho hàng ngày vừa đi bộ vừa hít bụi trên đường phố, thay cho thời gian rảnh rỗi tụ tập ngồi ép nhau uống rượu bia quá xá... Ông không thuê lao động, vậy mà chỉ sau ba năm, hơn một héc ta đồi xưa đầy lau lách đã được phủ thành một rừng cây xanh tốt um tùm. Bao quanh là một vành đai bạch đàn, huyệnh, trầm hương, huê... toàn là cây lấy gỗ và cây có giá trị kinh tế cao. Chính giữa có một cái hồ do hai hố bom trong chiến tranh tạo nên, nước trong vắt và không bao giờ cạn, do một khe nước luôn chảy róc rách phía Tây đồi của ông bổ sung. Ông thả cá rô phi lưỡng tính, cá chép vàng, cá mè... con nào cũng trên một ký. Quá trình khai phá đồi, ông đã có ý chọn những cây có dáng đẹp như Lộc vừng, Đén, Chu biên, Đùng đình... và những cây mua, sim, cây có hoa đưa trồng quanh hồ, xen kẻ là mấy chục cây cau, tạo thành một hồ cảnh, hiếm có ở thành phố. Cạnh hồ có một sào ruộng, ông gieo lúa, đủ nuôi một đàn gia cầm hàng chục con đủ ngan, ngỗng, gà vịt quanh năm. Bên cái " Công viên" tự tạo này, ông xây một căn nhà cấp bốn lợp tranh chỉ đặt được một chiếc giường đôi và một cái tủ nhỏ làm nơi nghỉ ngơi. Trước nhà, có một cây dẻ to. Dưới tán lá sum suê của cây dẻ, ông đặt hai cái giường tre, đủ hơn chục người đến vui chơi, ngồi nhậu. Còn cây ăn quả loại ngon thì mùa nào cũng có, không tính được... Khi thì bưởi Phúc Trạch, khi thì Mãng cầu dai, Cam, Quýt, Chanh, Vải, Nhãn... ngày nào ông cũng chở một bao đầy về nhà, con cháu ăn thỏa mái. Số còn lại, vợ ông đem bán thu tiền vào gấp mấy lần cái dàn hàng tạp hóa trong nhà của bà.

          Cảnh quan thu hút lòng người. Bạn bè khắp nơi điện báo đến thăm vãn cảnh. Đám tuổi già nhìn cơ ngơi của ông cứ tấm tắc khen và ao ước, thèm muốn. Sướng nhất là được ngồi quần tụ bên nhau trên hai chiếc giường tre hàn huyên bao chuyện trên đời, vừa nhâm nhi vài cốc rượu quê, với thịt gà đồi, với mấy con cá béo ngậy nuôi dưới hố bom thù, trong không khí trong lành. Thứ bảy tuần nào, anh con đầu của ông cũng đánh xe chở cả mẹ, vợ con, vợ chồng đứa em và các cháu lên trang trại của ông, như một chuyến đi du lịch sinh thái. Mấy đứa cháu tha hồ tung tăng chạy nhảy khắp đồi, lại được hái sim, hái muồng, hái dâu ăn tím cả môi. Mấy cha con thì cười nói vui vẻ và thỏai mái thưởng thức các món hương đồi cỏ nội, những món mà ngày xưa cả vua Càn Long tận bên Tàu mong chẳng thấy. Có lần cả đại gia đình lên, gặp lúc ông vừa bẫy được một chú chồn hương nặng hơn bảy ký và mấy con đa đa, con cháu, ông bà ăn không hết. Khi thì con chồn đèn, chồn mướp con gà nước, con le le... hầu như lúc nào cũng có. Một lần, cả nhà vừa đến, ông liền gọi chú rể lại:

          - Hôm nay ba không bẫy được con gì của núi đồi - Ông nói: - Con ra chọn hai con ngan thật to, hoặc con ngỗng cũng được vào làm mấy tô tiết canh nhậu. Thịt ăn không hết thì đưa về phố kho sả mà ăn.

          - Còn con thì được giao nhiệm vụ gì ạ? - Anh con trai cười và nói.

          - Nhiệm vụ của vợ chồng tiến sĩ là nghiên cứu bắt hai con cá chép thiệt to, có trứng lên sốt cà chua. Còn các cháu thì phân công nhau ra hái rau sống và các loại rau thơm... Ai cũng phải làm, có lao động khi ăn mới ngon.

          Mỗi người một việc. Chẳng mấy chốc, một bữa ăn toàn đặc sản trên vùng đồi của ông được bày ra. Anh con trai định chạy ra xe lấy két bia Hà Nội đã chuẩn bị từ dưới nhà đưa lên, nhưng liền bị ông ngăn lại.

          - Lên đồi ai lại uống bia - Ông nói: - Ba có thẩu rượu ngâm nguyên một tổ ong vò vẽ đặt cạnh tủ, tổ ong này ba bắt trong trang trại này ngâm đã gần ba tháng, con vào bê ra cùng thưởng thức.

          Cuộc liên hoan cuối tuần của cả đại gia đình  xong cũng là lúc trăng lên. Đêm ấy, người vợ hiền thân yêu của ông ở lại. Cả hai người cùng nằm trên chiếc giường tre, dưới gốc dẻ già, vừa trò chuyện, vừa ngắm trăng như cái thuở ban đầu mới yêu nhau. Bà cũng không ngờ được đó là đêm chung gối cuối cùng của vợ chồng bà.

          Chôn cất ông xong, anh con trai vào nhà mở chiếc tủ ra. Giữa mấy bộ áo quần bộ đội lâu nay ông cất giữ cẩn thận để làm kỷ niệm, có một cuốn sổ tay, có kẹp gần chục triệu đồng, trong những trang ghi chép cẩn thận họ tên, quê quán của mấy chục chiến sĩ cùng đại đội của ông đã hy sinh ở chiến trường. Dưới những hàng tên linh thiêng ấy, ông viết: " Đồng đội ơi! Tôi không bao giờ quên được. Lúc nào các đồng chí cũng hiển hiện lên trước mắt tôi. Đã hàng ngàn lần tôi bật khóc một mình, nhưng chưa có điều kiện giúp được gì cho các đồng chí, vì công việc chung quá bề bộn. Nay về nghĩ hưu, tuy tuổi tác đã cao, nhưng thời gian rảnh rỗi, tôi quyết định bí mật lập một trang trại, gọi là " Trang trại đồng đội". "Từ nay, bằng bàn tay lao động, bằng sản phẩm mình làm ra trên trang trại của chúng mình đây, tôi sẽ bán lấy tiền và dùng số tiền này để giúp đỡ gia đình các đồng chí... Nhờ trời và các đồng chí phụ hộ cho tôi được khỏe mạnh, sống lâu, để làm được nhiều việc có ích đối với các đồng chí...". Anh con trai cầm cuốn sổ tay và tất cả số tiền đặt lên bàn thờ của ông, rồi quì xuống, đưa tay vái lạy và thưa rằng:

          - Xin ba hãy yên lòng!. Chúng con sẽ tiếp tục thực hiện bằng được nguyện vọng và tâm huyết của ba!.

          Cả nhà ai cũng hứa trước anh linh của ông như vậy.

 

 

                                                                             Tam Đảo, tháng 9-2009

 

 

 

 

 

 

 

Kim Cương - Ký

 

Nỗi niềm

     QUÊ HƯƠNG

 

          Nói ra, có lẽ nhiều người cho tôi là "ông già bảo thủ". Nhưng, rất nhiều người, bất kỳ người ở phương nào, được gọi là không bảo thủ, hay tiến thủ gì gì đó, khi chỉ " liệng" qua một vòng trên đất Bố Trạch, đều cảm nhận không khác gì với tôi. Quê hương tôi đẹp, kiên cường, hào kiệt và nổi tiếng. Bao danh lam, thắng cảnh nổi tiếng của Quảng Bình, có những thắng cảnh nổi tiếng cả thế giới. Người quê tôi thông minh, cần cù, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó và rất bao dung...Không bao giờ tôi dám quay lưng lại và xúc phạm đến quê hương. Bởi: "Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người". Vâng, không quê hương chỉ có sương gió tơi bời. Quê hương là bao ni niềm...

          Tôi nhớ không nhầm thì cách đây cũng lâu rồi, nhiều lần, nhiều nhà sử học và " có cựa" am hiểu lịch sử được mời hội thảo để định tuổi của tỉnh nhà. Nghe nói phần đông "các nhà" ngã về năm sinh của tỉnh là 1604,và đề xuất tổ chức kỷ niệm 400 năm Quảng Bình, trong năm 2004, nhưng... chỉ để lại sự chờ mong!...Còn quê hương Bố Trạch, nếu tính từ khi có Châu Bố Chính, thuộc nước Lâm ấp vào năm 192, thì đã ở độ tuổi 1813.Theo các nhà khảo cổ thì mảnh đất Bố Trạch đã mang dấu ấn bàn tay con người cách đây hơn hai vạn năm về trước, mà bằng chứng là những chiếc rìu bằng đá, chày đá, đồ đựng làm bằng gốm, rìu đồng, dao găm bằng đồng đã được phát hiện ở Bàu Khê (Thanh Trạch), Cù Lạc và Phong Nha (Sơn Trạch), Khương Hà (Hưng Trạch)... . Cư dân Bố Trạch đã là chủ nhân một nền văn hoá cổ xưa nhất (văn hoá Bàu Tró và Đông Sơn) luôn gắn bó mật thiết với nhau, thành một cộng đồng ổn định, thương yêu, đùm bọc, sống chết có nhau trong chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ quê hương và làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Trong hơn hai vạn năm ấy, con người sống trên mảnh đất màu mỡ này, ngày càng khai thác, mở mang bờ cõi, để đến hôm nay, hiếm có một huyện nào rộng như Bố Trạch, giáp liền với nước bạn Lào, giáp cả năm trên bảy huyện và thành phố trong tỉnh.

          Quê tôi mênh mông, bao la những danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên thế giới và bao kỳ tích như huyền thoại của Quảng Bình.Từng được đi  và được tận hưởng nhiều cảnh đẹp của đất nước, của cả đất nước Trung Quốc như: Bắc Kinh, Thượng Hải, Tuần Châu, Tây Hồ, Sông Tiền Đường...nhưng rồi chẳng thấy nơi nào đẹp giống quê mình. Rong ruổi và ngồi viết tại trại viết văn ở Đà Lạt gần một tháng trời, mà đêm nằm xuống, vùng đất Ba Trại và Vực Nồi cứ hiện lên, làm cho cơ thể cảm thấy khó chịu. Khác chăng chỉ có nhiệt độ thường ngày, còn phong cảnh tự nhiên thì khó sánh được với nhau. Vẫn bát ngát thông reo vi vu bao bản nhạc diệu kỳ. Vẫn Hồ Vực Nồi, Vực Sanh, Bàu Trạng... trong xanh, sơn thuỷ hữu tình,cá tôm tung bọt trắng phau và những thung lũng màu xanh mượt mà của bao loài cây, loài hoa rừng rực rỡ ngan ngát hương. Xen qua rừng núi là bao khe suối  chảy róc rách qua từng hòn đá đủ mọi hình thù, dưới những tán lá mát mẻ...Chỉ cần ở những nơi đó có đường vào và vài mái nhà đón tiếp, vài chiếc thuyền con, kèm theo đó là vài chiếc cần câu và cái bếp ga nhỏ để sẵn trên thuyền, khách có thể vừa chu du trên mặt hồ, vừa buông câu, thưởng thức hương vị tôm cá, rồi lên suối tắm và mắc võng đung đưa giữa bạt ngàn núi non với "bài ca bên cánh võng", nhớ lại kì vĩ Trường Sơn. Dừng chân, vãn cảnh nơi đây, khách du lịch còn được nghe bao kỳ tích khó quên. Chính trên vùng đất này, năm 1425, tướng Trần Nguyên Hãn - nghĩa quân của Lê Lợi mang 7 voi, 50 ngựa vào chọn điểm hiểm yếu tại Rú Nguốn, phục kích đánh tan một đạo quân Minh xâm lược, tiêu diệt hơn một ngàn quân, tiếp tục giải phóng vùng đất Tân Bình vào Thuận Hoá. Du khách có thể ngồi nghe không hết chuyện về làng chiến đấu Cự Nẫm nổi tiếng khắp bốn phương trong chống Pháp, chống Mỹ, hai lần được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, còn nổi tiếng trong sản xuất được tuyên dương anh hùng lao động, tạo thành khẩu hiệu hành động ở miền Bắc: " Vượt Đại Phong - Đuổi kịp Cự Nẫm" một thời. Cự Nẫm - Rú Nguốn - Cồn Nàn đã được công nhận Di tích lịch sử quốc gia. Con đường Ba Trại, vắt ngang qua dãy Hoàn Bung dài 11 cây số, nối bờ Nam phà Gianh ( nay là cầu Gianh ) - nối liền đường Quốc lộ IA ra Bắc, đường Sông, đường Biển với đường Hồ Chí Minh, Đường 15, đường 20 Quyết thắng vào Nam, sang Lào... đã mang đầy sự tích huyền thoại trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Đi dọc con đường hôm nay đã rải nhựa phẳng lì và rộng mở, được phủ dày bóng mát của ngàn vạn thông xanh, ta sẽ nghe về người anh hùng Nguyễn Bá Chưng, chiến sĩ công an Quảng Bình đã anh dũng hy sinh để cứu thoát 40 cháu học sinh K8, trong phút giao thừa đón Xuân Mậu Thân (1968). Đến đất Cự Nẫm, dừng chân lại "Nghĩa trang Đông Dương" của Thanh niên xung phong, đốt nén hương trầm, tưởng nhớ những chàng trai, cô gái khắp mọi miền đất nước, mãi mãi với tuổi hai mươi trên mảnh đất này, chúng ta sẽ nghe họ kể về những chiến công oanh liệt nhất của họ trong cuộc chiến huỷ diệt sự sống của giặc Mỹ. Con đường như chiếc ống thực quản của đất nước, buộc kẻ địch phải tìm mọi cách huỷ diệt để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Không có ngày nào chúng không đánh phá. Có ngày chúng đánh gần chục lần. Chúng dùng đủ loại máy bay hiện đại, đủ loại vũ khí, chất cháy lân tinh, đánh liên tục. Và, con đường mãi thông suốt, khi mạch máu trong cơ thể họ còn chảy. Những đoàn quân, đoàn xe chở đầy hàng và vũ khí liên tiếp, liên tiếp vào Nam đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào và cuộc sống lại bình yên. Họ đã hoá thành những bài ca, bài thơ sống mãi:

                             " Tuổi hai mươi xếp lại thành hàng...

                            ....Có những ngọn thông thắp lên

                                Ngọn nến vàng mỗi tối...

                             ....Thông mỗi ngày một lớn cao thêm

 

                                Gió cứ hát rừng chiều Ba Trại

                                Mỗi năm một lần hương khói thắp lên

                                Con chim hót, gió bình yên thổi

                                Tiếng hát ru tuổi hai mươi"

                                                ( Chiều Ba Trại - Nam Tâm )

 

          Đi qua bạt ngàn thông reo quanh rừng Ba Trại đầy huyền thoại, đến với khu di tích Đường 15 và đường 20 Quyết thắng từ cửa rừng xã Sơn Trạch đến ngã ba Lo ùm, thuộc huyện Ăng - Ngang, tỉnh Khăm Muộn - Lào dài 123 cây số. Để có một con Đường 20 phục vụ cả cuộc kháng chiến như vậy, lực lượng thi công bao gồm 3 trung đoàn công binh và lực lượng thanh niên xung phong của các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, đã bỏ ra 19.287 công, với sức lực, trí tuệ và dụng cụ thô sơ, làm nên một kỳ tích không thể tưởng tượng nổi. Họ đã đào đắp 915.913 khối đất đá, chọc thủng vùng núi đá có diện tích gần 10.000 Km2, dưới hàng ngàn trận dội bom, xả đạn của máy bay giặc Mỹ. Có đợt, chúng ném bom suốt 87 ngày đêm liên tục với 793 trận. Có ngày, chúng dùng đến 27 lần chiếc B52 và 30 lần máy bay khác đánh phá. Những tên người, tên núi, tên đèo đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Đó là Trung đoàn công binh số 4, số 5, số 10, là Tổng đội thanh niên xung phong số 25, là chị Nguyễn Thị Liệu một mình phá hết 790 quả bom nổ chậm và san lấp 98.000 khối đất đá, là Trạm cảnh sát giao thông số 64 anh hùng và anh hùng Hoàng Hữu Nờ, Bến phà Xuân Sơn, Ngã ba Khương Hà, Hang mộ 8 thanh niên xung phong ở Km 16,5, Cua chữ A qua núi Mạ và núi Con luôn thông suốt dưới 3020 lần máy bay địch đánh phá...để rồi: "Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến - Như tình yêu nối liền vô tận - Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn" rạng ngời lên trên trang thơ Phạm Tiến Duật. Nếu như "Vạn lí trường thành" của Trung quốc, hay những lăng tẩm và kinh thành uy nghiêm ở Bắc Kinh và Huế... là kỳ công và tài hoa của con người, trong tội ác của các triều đại phong kiến, đã trở thành những điểm du lịch nổi tiếng; thì những kỳ tích và phong cảnh "Sơn thuỷ hữu tình" dọc suốt tuyến đường Ba Trại - Tỉnh lộ 2 - Đường 20 - Đường 15 sẽ là điểm hẹn và điểm phải đến của khách muôn phương, khi có điều kiện thu hút thuận lợi. Bởi những điểm ấy, nước non huyền diệu, gắn liền khí phách và bao chiến công hào hùng của con người yêu chuộng độc lập - tự do và cái đẹp.

          Chiến tranh đã vào quá khứ, nhưng ký ức của người Bố Trạch, người Quảng Bình, cũng như tất cả những người đã từng chiến đấu và đi qua trên mảnh đất này vẫn luôn in đậm với những trang sử anh hùng đã diễn ra nơi đây. Những non kỳ thuỷ tú, ngày nay lại càng thêm nhiều ý nghĩa đẹp đẽ đáng để cho muôn người chiêm ngưỡng!.

          Gắn liền với các tuyến Đường 20 và tuyến Đường 15 ( nay là Đường Hồ Chí Minh) là cả di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây được đánh giá là vùng Karst rộng nhất thế giới với diện tích trên 200.000 ha. Khu Phong Nha - Kẻ Bàng có một quần thể hang động phong phú, kỳ vĩ; là thiên đường cho bộ môn hang động học và du lịch hang động. Trong số 20 hang động với tổng chiều dài trên 70 Km đã được đoàn khảo sát Hoàng gia Anh phối hợp với Khoa địa lí Đại học quốc gia Hà Nội đã khảo sát, được đánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất thế giới với các đặc trưng: Có sông ngầm dài nhất, các hang có chiều cao và rộng nhất, các bãi cát trong hang dài nhất và có thạch nhũ đẹp nhất. Trong các hang động thì Phong Nha thật sự nổi bật với chiều dài khảo sát gần 8Km, chủ yếu với sông ngầm " phía dưới thì nước biếc như màu chàm, phía trên thì non xanh như tấm thảm... Du khách đi thuyền đến vãn cảnh trước hết phải thành tâm trí giới, thì khách thấy nước lặng sông êm, gió quang mây tạnh... nghe gió thổi như đàn, động vang như sáo... hoa cười đón khách, chim hót chào người, cảnh trí riêng hẳn ra một bầu trời đất..."(*). Động Phong Nha đã được đánh giá là một kỳ tích của thiên nhiên sánh ngang Động Pa-ri-ắc của Pháp và Động Cu-e-va-đen-trắc ở Tây Ban Nha là những hang động đẹp bậc nhất thế giới. Ấy vậy mà mới đây, người ta còn phát hiện thêm một hang động cách động Phong Nha không xa, lại rộng hơn, cao hơn và đẹp hơn Phong Nha nhiều. Quả là thiên nhiên đã ban tặng cho ta quá nhiều "của quí" mà ta chưa khai thác hết và chưa cho mọi người tận hưởng hết!. Cùng với hệ thống hang động kỳ diệu, sông Troóc, sông Chày, sông Son trong khu Phong Nha - Kẻ Bàng, nước trong xanh, chảy giữa vùng núi đá, có rừng, tạo nên cảnh đẹp thơ mộng, như bức tranh thuỷ mặc quyến rũ du khách. Không thích đi đường bộ, du khách có thể đi thuyền từ sông Gianh - nơi đã từng chứng kiến 7 trận giao

                                               

(*): Dương Văn An - Ô châu cận lục.

 

 

chiến quyết liệt giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn, trong vòng 45 năm (1627-1672); chứng kiến cảnh" nồi da nấu thịt - Nơi gươm hồng trừ giết giống Lạc Hồng"(*)  trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh và chứng kiến vua Quang Trung - Nguyễn Huệ và đại quân vượt sông hành quân ra Bắc, tiêu diệt họ Trịnh, thống nhất sơn hà . Và, từ Sông Gianh đi thuyền xuyên qua bao làng quê trù phú, lên Phong Nha. Có thêm được tuyến du lịch ấy thì quá là tuyệt diệu. Càng tuyệt diệu không có gì bằng, khi trên bến có nơi đón tiếp, ăn nghỉ đàng hoàng, đêm đêm dưới sông có giao lưu văn hoá và ca hát trên thuyền, chắc hẳn khách khó rời Phong Nha khi đã xem hang động xong!. Từ đây, ta có thể mời du khách ngh lại, để còn đi chiêm ngưỡng khu rừng nhiệt đới nguyên sinh ít bị tác động, với độ che phủ trên 95% và có tính đa dạng sinh học cao. Theo số liệu điều tra bước đầu, thì trong vườn quốc gia - Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng có 140 họ, 427 chi, 721 loài thực vật bậc cao, trong đó có 36 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng và được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Trong khu di sản thiên nhiên thế giới này còn có 32 bộ,98 họ, 256 giống, 381 loài của 4 lớp động vật có xương sống ở trên cạn, trong đó có 66 loài quí hiếm có tên trong sách đỏ của Việt nam, 23 loài được xếp vào danh sách bảo vệ toàn cầu... Du lịch hang động, du lịch sinh thái, du lịch trên sông nước, thăm các di tích lịch sử đầy huyền thoại... đến với vùng Phong Nha - Kẻ Bàng muốn gì cũng có.

          Bố Trạch quê tôi còn có một dải Hoành Sơn. Gọi là Hoành Sơn bởi đó là dãy núi vắt ngang qua bao làng mạc ra đến biển. Nó còn có một cái tên riêng từ rất xa xưa là vùng núi Lệ Đệ. Núi không cao lắm, nhưng nối nhau liên tục với hàng trăm ngọn, kéo từ đầu nguồn đến cửa sông Lý Hoà, chắn ngang đường Quốc lộ Nam Bắc. Chân núi Lệ Đệ vươn ra tận biển, nhấp nhô sóng vỗ, được gọi là đèo Đá Nhảy hoà thành một cảnh trí thiên nhiên, nơi hội tụ của biển - trời - non - nước, tạo thành một cảnh đẹp hiếm nơi nào có được. Phía dưới chân đèo là bãi cát vàng mịn màng, bằng phẳng, kéo dài ra tận cửa Gianh và làng Lý Hoà đêm ngày lộng gió, sóng biển vỗ về. Nơi núi liền biển, biển ôm chặt lấy núi với vô vàn những hòn đá đủ kích cỡ, đủ hình thù khác nhau. Hòn như cây trụ trời, hòn như mâm xôi, hòn như đôi gà trống chọi nhau...trên nền sóng biển, đá như đang nhảy múa suốt đêm ngày.Cảm hứng trước cảnh đẹp hiếm có đó, khi qua đây, cụ Nguyễn Khuyến đã có thơ:

                             " Núi non chững lại dứt đầm ao

                                Vời vợi trong xanh ngát một màu

                                Trên dưới nước liền trời biếc biếc

                                Đêm ngày bờ gọi sóng xôn xao

                                Non như mảnh lá con thuyền đó

                                Trông dứt làn da xứ sở nào..."

                                                         

(*): "Hận Sông Gianh " của Phan Bội Châu.

          Đá Nhảy không chỉ đẹp về phong cảnh nước- non- trời- biển quyện chặt bên nhau dưới trời xanh, gió lộng, mây lượn quanh mình, mà còn là một bãi tắm tuyệt vời cho du khách thập phương. Ngắm nhìn cảnh mình yêu, tôi bỗng nghĩ về Đồ Sơn của Hải Phòng. Bãi tắm của họ vừa bẩn chất phù sa, núi non của họ nhỏ bé, vậy mà họ đã tạo ra một cảnh quan đồ sộ, sạch, đẹp, thu hút nhiều khách đến. Còn ta, gắn liền với bãi tắm mênh mông bốn mùa trong vắt, với một kỳ quan hiếm thấy bên đường Quốc lộ 1A, là cả một dãy núi dài hàng chục cây số, phần nhiều đã được phủ thông xanh. Nhìn lên núi, nhiều người đã ứơc rằng: Dọc theo dãy núi đẹp ấy có những con đường xe có thể chạy được, có những biệt thự nhỏ để khách du lịch sinh thái có thể ở để hứng gió biển, gió rừng, để xuống tắm biển, về làng Lý Hoà nổi tiếng giàu có, thông minh, có nhiều người thi đỗ đại khoa dưới thời nhà Nguyễn. Ở đây, du khách có thể lần theo sơn hệ Lệ Đệ, ngược lên phía Tây, qua Lùm ổi, vào đường Khe Tre, qua núi Con Ruộng, Khe Ông Tiên, lên Cồn Lân, Cồn Vụ, vượt qua Cồn Làng, gặp Khe Thầy Bói, vào làng Cao Lao - một làng có tiếng là đất Kỳ Phong, có Cửu Khúc Long Khê, sản sinh ra nhiều giai nhân tài tử, nhiều nhà khoa giáp lừng danh như Đặng Văn Thái, Lưu Đức Bình, Lưu Đức Xứng đồng tác giả bộ Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam hội điển sự lệ... Và Lưu Trọng Lư nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam...

          Người ta thường nói: "Đi một đoạn đàng, học một sàng khôn".Lâu nay, chỉ mới đi trong nước, vừa rồi có dịp chỉ đi du lịch ở Trung Quốc hơn mười ngày mà đã tâm phục. Chúng tôi vừa đặt chân xuống sân bay Bắc Kinh, đã có giảng viên du lịch của họ đón ngay. Anh ấy tên là Phan Hồng Lân, nói và hiểu nghĩa tiếng Việt rất giỏi. Hỏi ra, đều do anh ta tự học mà nên. Anh ta còn giỏi cả tiếng Anh, tiếng Thái Lan nữa. Lúc đầu gặp mặt, thấy bề ngoài anh ta có vẽ khù khờ, nhưng...phải nói là rất ngạc nhiên khi thấy Lân giao tiếp và thuyết trình. Anh ta rất lịch sự, vui tính, am hiểu nhiều và có khiếu nói. Dọc đường từ sân bay về khách sạn Long Đàn, Lân đã cho chúng tôi hiểu các phong tục, cách cư xử, một số ngôn ngữ cần dùng và đầy đủ lịch trình tham quan. Du lịch tua nào thì từ đầu đến cuối phải răm rắp theo tua ấy. Chúng tôi như là những toa xe, còn Lân  như cái đầu máy kéo đi hết Bắc Kinh, đến Hàng Châu (tỉnh Triết Giang), về Thượng Hải, lên Vạn lý Trường Thành, đến "Bạch Thảo Sảnh"(hay là "Đồng Nhân Đường", nơi mà ta đã xem Bạch Cảnh Kỳ"), về Thiên An Môn và khu kinh thành nơi mấy triều vua ở, nơi Từ Hi Thái hậu sinh hoạt thường ngày, đến Công viên Bắc Hải, Cửu Long Bích, Cổng Đắc Thắng, Tây Hồ, Tháp Lục Hoà, về nơi chế biến chè hoa Cúc thưởng thức chè Bát Bảo mà ta thường thấy vua Càn Long và Khang Hy thích uống, Xem Dự Viên, thăm Chùa Ngọc Phật, Tháp truyền hình cao nhất thế giới ở Thượng Hải... Trước khi đến và tại nơi đến Phan Hồng Lân và Lưu Tiểu Hoa (được bổ sung thêm khi về Hàng Châu và Thượng Hải) giới thiệu cặn kẽ, rõ ràng từng mặt hàng như: ngọc đá truyền thống và các loại trà gia truyền ở Bắc Kinh, các loại thuốc của "Bạch Thảo Sảnh", ngọc trai Hàng Châu, Tỷ Hươu luôn phù hộ giàu sang phú quí ở Cổng Đắc Thắng, các loại trà chế từ hoa Cúc, lụa Hàng Châu, Cảnh Thái Lam đã ra đời cách đây hơn 800 năm có truyền thống làm các loại bình bằng đồng nhìn bề ngoài hơn sứ cao cấp,... đầy thuyết phục hơn cả ta quảng cáo trên ti vi!.Đã đi thì đi hết tất cả những địa danh có trong tua du lịch. Tất nhiên là đến đâu cũng phải mua vé mới vào được. Vào nơi di tích và danh lam thắng cảnh thì xem. Vào nơi sản xuất chế biến mang tính" gia truyền nổi tiếng Trung quốc", thì được đón tiếp niềm nở, chào hàng lịch sự, với những lời giới thiệu hấp dẫn, để rồi trước khi ra về, ai cũng đều mua...Thế là họ thu được tiền tua, tiền vé và bán được cả sản phẩm với giá rất cao nữa. Miên man dài dòng với đất khách âu cũng chỉ để ngắm người, nhìn ta, để hiểu hơn về cái ngành công nghiệp không khói, về con gà đẻ trứng vàng của họ.

          " Huống chi ở địa phương ta, trên đất liền thì núi sông bày sầm uất, ngoài biển thì sóng nước gợn nhấp nhô...Dòng Linh Giang sâu rộng . Dãy Hoành Sơn đẹp vẽ hùng vĩ. Hương Uyển uốn lượn vươn cao, sáng vẻ rồng vàng rực rỡ. Ma Cô rậm rạp nghi ngút, đượm mây phượng tía nồng nàn. Quả là một vùng trời đất trọng yếu, nếu chẳng phải nơi dành nuôi dưỡng nên những nhân tài tuấn kiệt, phát mở ra đường học hành tấn tới thì sao lại có được khí đất như vậy?... Có trời đất này thì mới có núi sông này, và có núi sông này thì mới có nhân vật này. Bởi từ khi trời đất mở mang thì núi sông hiện ra. Núi mọc sông chảy thì muôn vật sinh ra..."(*). Thiên nhiên, đất trời đã ưu ái đặt phần nhiều kỳ quan, danh lam, thắng cảnh trên mảnh đất Bố Trạch anh hùng, với nhiều huyền thoại trong các cuộc chiến tranh giữ nước và bảo vệ Tổ quốc, lại được đường lối đổi mới của Đảng ta luôn mở ra, lý gì con người Bố Trạch vốn rất thông minh lại không tìm cách khai thác, để biến chúng thành những con gà mái đẻ trứng vàng!. Chúng ta có thể mở ra và tạo thành các tua du lịch: Đá Nhảy - Ba Trại - Cự Nẫm - Đường Hồ Chí Minh - Đường 20 - Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng - Động Phong Nha và các hang động trong vùng Phong Nha Kẻ Bàng, rồi về du thuyền trên Vực Nồi, cho cuộc đời sảng khoái dưới các nhạc điệu du dương của ngàn thông reo...mở ra cả nguồn lợi cho cả tỉnh và huyện nhà.

          Nghĩ mà sáng rực lên bao niềm vui, mà thương quê hương còn nghèo nên" lực bất tòng tâm", đứng trước những tiềm năng lớn mà chưa khai thác được. Trông nhờ nhiều vào tỉnh, nhưng lâu nay tỉnh chỉ mới "ăn xổi" những thứ sẵn có, còn đầu tư chưa đáng là bao, nên phải khai thác và thu lặt vặt theo thời vụ. Đã có người nói với tôi rằng:"Rứa mà anh còn nói là ít thì răng nữa?!. Chỉ có một việc thu khách đến thăm quan vài tháng mùa hè cũng đã gấp mấy chục năm làm ruộng của mấy xã xung quanh Sơn Trạch rồi, mà ta

                                                 

(*): Ôchâu cận lục - Dương Văn An.

 

chi phí có đáng là bao đâu!." Lại còn nghe đã có rất nhiều dự án, nhiều nhà đầu tư sắp nhảy vào!. Nhưng, tất cả chỉ mới trên đài, trên báo, còn lại là sự chờ đợi quá lâu rồi. Chẳng biết đến bao giờ những vùng du lịch trọng điểm được đầu tư, những di tích lịch sử và những danh lam thắng cảnh được tôn tạo. E rằng rồi những ngã ba Hạ Trạch, Bến Trôống Mòn, ngã ba Thọ Lộc, Bến trung chuyển Khương Hà, ngã ba Khương Hà, Phà Xuân Sơn, Cảng Gianh...những vùng "Toạ độ lửa" gắn liền với bao chiến công hào hùng, với bao người anh hùng, không những không có những tượng đài anh hùng để các thế hệ đời sau tâm linh, mà rồi sẽ không còn dấu tích. Rú Nguốn, Cồn Nàn - nơi mà Nghĩa quân của Lê Lợi từng phục kích đánh tan cả đạo quân nhà Minh xâm lược, nơi gắn liền với những chiến công vang lừng của Cự Nẫm nổi tiếng trong chống Pháp và chống Mỹ, ngày xưa Rú Nguốn um tùm xanh tốt người quen đi cũng dễ bị lạc, với nhiều loài gỗ quí như Dạ hương, Lim, Gõ...cây cao to, che cả hàng trăm chiếc xe vận chuyển hàng và vũ khí vào chiến trường trú lại, nay chẳng còn dấu tích của rú rừng!...Thế hệ sau chiến tranh không thể nào hiểu nổi...

          Nhân tài là do khí đất chung đúc nên, khí đất lại nhờ có nhân tài mà phát xuất. Nghĩ rằng: Đất quê ta mênh mông, hội tụ nhiều tinh hoa của tỉnh,của cả thế giới, lại là vùng "Địa linh nhân kiệt", chắc hẳn không bao lâu nữa sẽ phát lên nhanh, vừa giàu, vừa đẹp.

 

                                                                             Tháng 8 năm 2005                                                                   

                                                                                               

 

 

 

 

 

 

 

Đường

XUYÊN QUA QUÊ TÔI

                                          

          Đó là sự bắt đầu của đôi bàn chân tôi khi bước chân ra khỏi đường làng - Đường Tỉnh lộ 2. Thực ra, thì con đường ấy  đã xuyên qua làng tôi trước ngày tôi sinh hàng thế kỷ. Dân làng tôi xưa thường gọi là "đường quan". Từ thời nhà Hồ (1400 - 1407), ngoài con đường Thiên Lý còn có con đường thượng, từ xã Kỳ Thượng ( Huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh) vượt dãy Hoành Sơn, theo hướng Tây Nam, vào Vực Con Chó, đến Tiên Lương, vượt qua bến đò Chợ Sải ( xã Quảng Trung), men theo núi Thọ Linh , vào Thùng Thùng, Khe Ngang, về Gia Hưng, Cự Nẫm. Đến vùng này, con đường thượng chia ra hai ngã. Một  vào Sen Bàng, Phú Quí, Lệ Kỳ, qua đò Long Đại, đi thẳng vào Sa Lung ( Vĩnh Linh). Một  đi về Hoàn Lão gặp lại đường Thiên Lý. Ngã này về sau gọi là đường Tỉnh Lộ 2. Từ năm 1893, nhà cầm quyền Pháp bắt đầu mở mang các tuyến " đường hàng xứ", trong đó có đường Tỉnh Lộ 2 từ Hoàn Lão lên Phong Nha, dài 40 cây số. Đường xuyên qua 6 xã: Trung Trạch, Hoàn Trạch, Vạn Trạch, Cự Nẫm, Hưng Trạch, Sơn Trạch, qua bao nhiêu núi đồi, lượn dọc theo Sông Son, dẫn khách hành đến Phong Nha đệ nhất động. Đường mang đầy kỳ tích trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

          Năm 1425, tướng Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân của Lê lợi, đã mang 7 voi, 50 con ngựa đi theo đường này, vào chọn Rú Nguốn ( xã Cự Nẫm) là điểm hiểm yếu, phục kích. Bố trí lực lượng xong, tướng Trần Nguyên Hãn giao cho Lê Nổ chỉ huy, còn ông dẫn quân ra chiến trường, giả thua chạy để dụ địch vào troòng. Quân Minh chiếm đóng tại đồn Hoàn Lão lên, tuy đông, nhưng bị phục kích đánh bất ngờ, nên bị tiêu diệt hơn một ngàn quân. Thừa thắng xông lên, đạo quân của Trần Nguyên Hãn tiến thẳng giải phóng Tân Bình, vào Thuận Hoá. " Tại đây, vua Lê Lợi đã chọn lấy người tinh nhuệ, chia cắt quân hiệu tiến quân ra Đông Đô, tiếp tục kháng chiến đánh đuổi quân Minh"(1). Sau bao nhiêu năm chứng kiến thảm cảnh " nồi da nấu thịt - Nơi gươm hồng trừ giết giống Lạc Hồng"(2) do họ Trịnh và họ Nguyễn gây

 ra cuộc chiến tranh giành quyền lực đẫm máu, ác liệt nhất trong lịch sử dân

                                               

 (1): Lê Quí Đôn - toàn tập, T1 Phủ biên tạp lục, NXBKH-KT 1977- tr37,38

(2): "Hận Sông Gianh" thơ Phan Bội Châu

 

tộc, mùa Xuân năm 1786, tiếp theo những thắng lợi giòn giã đánh bại hoàn toàn quân Nguyễn, giải phóng đất Đàng Trong, vua Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc đánh Trịnh, dân hai bên đường Tỉnh Lộ 2, cùng với cả huyện nô nức theo nghĩa quân chặn đánh, vây bắt hàng trăm quân Trịnh, nâng bước đoàn quân tràn ra Thăng Long đại phá quân Thanh, thống nhất non sông.

          Người dân sống ven đường Tỉnh Lộ 2 nghèo khổ. Người ta quen gọi là "Kẻ" như: "Kẻ Ngói", "Kẻ Hạc", Kẻ Nầm"...Nghe quá miệt thị, xót xa, và có lẽ trong hoàn cảnh ấy, mọi người sống trong vùng này đều tràn đầy lòng tham và khát vọng: tự do, vui sướng, giàu sang và hạnh phúc. Không phải là A.Q trong cái "A.Q chính truyện", mà dân quanh đường Tỉnh Lộ 2 quê tôi đã được các nhà hoạt động cách mạng diễn giãi nhiều, nên ít nhiều hiểu về cách mạng và chỉ biết theo những người cộng sản làm cách mạng mới toại nguyện. Tháng 7 năm 1930, theo sự vận động của Chi bộ Đảng mới thành lập, 500 nông dân ở các làng Hoàn Phúc, Vạn Lộc, Hoàn Lão đang làm đường Tỉnh Lộ 2 bãi công đấu tranh, đòi địch phải cấp gạo, thực phẩm cho người đi làm, đòi cai lục lộ không được đánh đập, khủng bố công nhân. Thực dân Pháp điều động nhiều binh lính đến giải tán, nhưng cuộc đấu tranh mãi kéo dài, làm ngừng trệ mọi hoạt động của địch trên tuyến đường dài ngày. Đầu tháng 8 năm 1930, hơn 1000 nông dân làng Hoàn Phúc, theo sự hướng dẫn của Chi bộ Đảng, kéo về đình làng, đấu tranh kịch liệt với bọn cai thầu, tri huyện và bọn lý, hương đem bán 50 hec ta phá Hạc Hải cho tên tư sản địa chủ Bùi Tín. Tưởng dân ta nghèo, thấy bạc là sáng mắt lên, Bùi Tín và bọn tay sai dỡ trò mua chuộc mỗi chữ ký nhất trí bán đất là 5 đồng bạc. Bị xúc phạm, cả ngàn người ào lên hét vang:  "Đất Hoàn Phúc do dân Hoàn Phúc cày", " Phá Hoàn Phúc là của dân Hoàn Phúc, không thể để một kẻ nào chiếm làm của riêng!"," Đả đảo bọn Hoang, Thấu bán đất làng mà ăn!"...Thế tiến công của dân mạnh lên. Bọn chúng quay mặt chữi nhau rồi cúi đầu chuồn thẳng. Đất Hoàn Phúc vẫn là của người Hoàn Phúc...

          Cuộc đấu tranh chống thực dân phong kiến của nhân dân từ Trung Trạch, đến Phong Nha cứ thế mà kéo dài liên tục, khi thì chống đi phu đi lính, chống sưu cao thuế nặng, chống áp bức bốc lột, đòi công bằng, chống "Phì điền tiên cấp"(1); khi thì theo các đồng chí đảng viên ký vào 10 điều dân nguyện gửi trình lên kỳ họp thứ nhất của Viện dân biểu Trung Kỳ khoá III...Trước phong  trào đó , tháng 10 năm 1943 , bọn  chúng  lại  giở  trò  mị dân. Chúng cho nhà tư sản thương nghiệp Thuận Long ở thị xã Đồng Hới, mang ra 240 kiện vải ra bán cho dân. Được tin báo của cơ sở tại Đồng Hới, các đồng chí đảng viên coi đây là thời cơ tốt để vận động quần chúng đấu tranh và phân công nhau đến tận từng làng, vận động quần chúng đi mua vải.

                                               

(1): Ưu tiên cấp ruộng tốt cho bọn có quyền

Hàng trăm người ở các làng và chợ Hoàn Lão được huy động kéo ra huyện đường. Thấy người tập trung đông quá, nên khi xe vải của nhà hàng Thuận Long đến huyện, tên tri huyện Bố Trạch và bọn quan lại cho tay sai ra cướp 7 kiện vải đưa vào nhà. Hàng trăm người ào lên bao vây huyện đường. Cuộc giằng co lấy lại số vải bị cướp xảy ra kịch liệt. Hoảng loạn trước sức tấn công của dân, tri huyện và bọn quan lại vội vã điện xin công sứ Quảng Bình ra đàn áp. Công sứ Quảng Bình tức tốc điều quân ra Hoàn Lão, nhưng rồi cũng ngậm đắng, nuốt cay, đứng nhìn chốc lát và đành phải lên xe chuồn thẳng vào Đồng Hới, còn việc đó thì " sống chết mặc bay!". Những tháng cuối năm 1944 và đầu năm Ất Dậu (1945), nạn đói diễn ra khắp nơi. Nhiều gia đình không có ăn. Người ăn xin, người chết đói đâu đâu cũng có. Ban vận động cứu đói của huyện ngoài việc vận động nhân dân giúp nhau theo đạo lý " một miếng khi đói bằng một gói khi no", còn vận động, tổ chức cho nhân dân kéo lên huyện đường đấu tranh buộc chính quyền huyện phải xuất ra hai tấn gạo nấu cháo, phát chẩn, cứu đói và mở công trường tu sửa đường lên Phong Nha để có công ăn việc làm cho dân. Trong tình cảnh hàng trăm người dân trong làng đang bị nạn đói đe doạ, bỗng nhiên ở làng tôi - cái làng Cự Nẫm nằm hai bên con đường Tỉnh Lộ 2 - các ông Nguyễn Đồng, Nguyễn Khắc Trung và Nguyễn Bân đã đứng lên vận động hàng trăm người phá kho thóc của Nhật chia cho mọi người. Bọn nhỏ chúng tôi sau này được nghe kể lại, cứ xem các ông như  những vị thần cứu nguy cho nhân loại. Được thêm tý hồ, tý cháo trong người, sức lực có nâng lên, cả làng tôi, cùng với các làng khác, kết nối bên nhau theo sự lãnh đạo của Đảng, rầm rập đứng lên Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành lấy chính quyền, xoá bỏ ách áp bức bóc lột, làm người tự do.

          Cách mạng tháng Tám thành công, "cách mệnh cái mẹ" thực dân phong kiến mới hơn 8 tháng, chính quyền chưa kịp hoàn chỉnh, cuộc sống chưa ổn định, thì chiến tranh lại xảy ra. Từ trục đường chính - Tỉnh Lộ 2, lại xuất hiện một loạt đường xuyên qua 6 xã trong vùng. Đường từ vùng Phú Quí và Thụ Lộc, lên Cự Nẫm, Troóc...Cao Mại (Tuyên Hoá). Đường từ Đồng Hới, ra Thụ Lộc, lên Cự Nẫm, Gia Hưng ( Hưng Trạch ), Cây Lim , Đức Hoá( Tuyên Hoá). Đường từ Phú Hội, ra Lý Nhân Nam, Lý Hoà, Hỷ Duyệt, lên Cự Nẫm, Phong Nha, Troóc...Đường kháng chiến giăng ra chằng chịt. Đường Tỉnh Lộ 2 là trung tâm. Cự Nẫm quê tôi như một trái tim, mà mỗi con đường như là một mạch máu về hội tụ, rồi lại toả ra khắp nơi để phục vụ kháng chiến . Và rồi, Cự Nẫm, Phú Định, Bồng Lai...trở thành những căn cứ kháng chiến đầu tiên của huyện Bố Trạch. Lúc bấy giờ, quê tôi cùng các làng Lý Hoà, Cao Lao Hạ đã biết tổ chức đấu giá ảnh chân dung Hồ Chủ tịch, thu được 1000 đồng lập quỹ ủng hộ kháng chiến.

          Rồi cuộc kháng chiến bùng nổ khắp toàn quốc. 6 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 3 năm 1947, gần 2000 lính thuỷ đánh bộ Pháp, được máy bay, tàu chiến yểm trợ đổ bộ lên bãi biển Nhật Lệ, đánh vào thị xã Đồng Hới và đánh vào Cửa Gianh huyện Bố Trạch. Một ngày sau khi chiếm được Đồng Hới, chúng cho 500 quân đánh ra Hoàn Lão. Ngày 1 tháng 4, theo đường Tỉnh Lộ 2, chúng đánh lên Thụ Lộc, rồi Vạn Lộc...Dưới gót giày của bọn xâm lược, đường Tỉnh Lộ 2 bụi tung mù mịt, trùm lên huỷ hoại cuộc sống thanh bình.

          Chẳng biết duyên cớ gì mà Cự Nẫm quê tôi bỗng trở thành một trọng điểm cả của ta và của địch. Xem ra, mảnh đất và con người nơi đây như là cánh cửa thép trên tuyến Tỉnh Lộ 2. Ta muốn dùng nơi đây để chặn đứng các cuộc tiến quân của địch lên vùng phía Tây của tỉnh và huyện. Kẻ địch muốn đánh bật cánh cửa thép này để đánh phá lên vùng chiến khu và căn cứ địa của ta. Thế là ngay từ đầu cuộc kháng chiến, tỉnh và huyện đã quyết định xây dựng làng chiến đấu Cự Nẫm. Cả làng chỉ mới có 7 đảng viên. Họ không quản khó khăn, lao vào cùng các đoàn cán bộ của huyện và Đại đội 5 của chi đội Lê Trực khảo sát địa hình, vạch kế hoạch và chỉ đạo nhân dân rào làng chiến đấu. Hàng trăm hầm, hàng chục cây số giao thông hào chạy dọc, chạy ngang, đan chéo nhau chằng chịt, nối liền xóm, liền nhà, ra các trận địa và chòi gác... Làng được bao quanh những lớp hàng rào bằng tre ri đầy gai sắc nhọn và gỗ. Hệ thống làng chiến đấu hoàn thành. Lực lượng dân quân, du kích được tăng cường và bố trí hợp lý trên các trận địa. Hiệu lệnh báo động qui định rõ ràng. Hội mẹ chiến sĩ cũng ra đời và ngày đêm tích cực vận động, quyên góp, chuẩn bị lương thực, thực phẩm và mọi vật chất cho cuộc chiến đấu. Cả làng sẵn sàng xông pha " Thề cùng giặc Pháp có tao không mày". Quân ta đã giăng lưới đánh Tây. Còn bọn giặc Tây cũng không kém phần kiên quyết. Ngày 7 tháng 5 năm 1947, một trung đội lính Pháp với đầy đủ các loại vũ khí, hung hăng đánh vào Cự Nẫm, hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta, lập lên hội tề của chúng, khai thông đường Tỉnh Lộ 2, đánh lên vùng tự do, nhưng chúng đã vấp phải một sự đánh trả quyết liệt. Quân và dân trong làng đã cùng bộ đội kiên cường chiến đấu, tiêu diệt 10 tên, làm bị thương nhiều tên khác, phá tan cuộc càn quét của địch. Bị thất bại thảm hại ngay từ trận đầu, bọn Pháp như một con thú điên cuồng, lồng lộn, luôn dồn quân và vũ khí đánh lên Cự Nẫm. Từ đó đến hết năm con Lợn, nghĩa là trong vòng 225 ngày, chúng đã huy động lực lượng đánh Cự Nẫm 25 lần, với đủ phương thức, thủ đoạn, nhưng cả 25 lần đều bị quân và dân Cự Nẫm quê tôi đánh cho tan tác. Nhiều trận thắng lớn ở Rú Nguốn, Cồn Nàn, Đãi Vàng, Cồn Tro, Bãi Trượt...đã làm cho giặc Pháp kinh hồn khiếp vía. Từ đó, bài ca " Cự Nẫm, thôn chiến đấu" vang lên: " Cự Nẫm tiến lên lập công. Lên tay đao thề cương quyết sống chết cùng thôn chiến đấu. Cự Nẫm xung phong diệt thù...Vùng Cồn Nàn còn in bóng dân quân từ bao đêm thấp thoáng trong muôn cánh lau...Rú Nguốn đường còn say nghe máu đẫm thây quân thù...

 

Lính Việt Nam, gan Cự Nẫm tiếng ca quang trong ngàn tiếng reo hò..."(1).  "Cự Nẫm thực sự là một làng chiến đấu kiểu mẫu ở Quảng Bình...làng đã đương đầu được với quân Pháp từ ngày xẩy ra tác chiến ở Quảng Bình". Liên khu uỷ Liên khu IV đã đánh giá về quê tôi như vậy. Cái làng nhỏ bé nằm hai bên đường Tỉnh Lộ 2 ấy bỗng trở thành nổi tiếng khắp cả nước,  khích lệ toàn dân đánh giặc. Cũng trong thời gian Cự Nẫm làm nên cái oai hùng ấy, ngày 27 tháng 5 năm 1947, tổ du kích Hoàn Lão do anh Phan Dung chỉ huy, dùng đại đao, mã tấu, cuốc bàn...đánh địch ngay tại nhà anh Thiện, tiêu diệt 2 tên Pháp. Ngày 3 tháng 6 năm 1947, anh Mè và anh Méo du kích Hoàn Lão phục kích đánh phá huỷ 1 xe quân sự và tiêu diệt 20 tên Pháp ở gần Cầu Hói trên đường Tỉnh Lộ 2...Chiến thắng cứ thế kéo dài thêm những bản trường ca:

          "... Cầu Hiểm, cầu Bùng, Tây làm, ta lại huỷ

            Đường số 2 bom thét nám bờ hoang

            Giặc chết kể hàng ngàn

            ...Ngày nay, Troóc giặc tàn,

            Hà Lời, Cổ Giang giặc chạy

            Cả hệ thống luỹ đồn miền Tây tan một dãy..."

                                      (" Về Bố Trạch "- Thơ Xuân Hoàng )

          Con đường Tỉnh Lộ 2 đã trở thành con đường huyết mạch, là mục tiêu khai thông trong các đợt tấn công, càn quét của giặc Pháp. Làng Cự Nẫm vẫn là mục tiêu quan trọng của quân Pháp trong âm mưu đánh lên vùng tự do phía tây huyện Bố Trạch. Cuối tháng 2 năm 1948, chúng điều 350 quân tinh nhuệ ở Đồng Hới và Hoàn Lão, với nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, tập trung về hai đồn Thụ Lộc và Thanh Khê, chuẩn bị cuộc tấn công lớn, quyết " xoá tan làng Cự Nẫm", mưu tìm một thắng lợi trên mặt trận quân sự, lên "giây cót" tinh thần cho sĩ quan và binh lính, khuyếch trương thanh thế cho tên vua bù nhìn Bảo Đại sắp về nước. Cái cốt yếu trong các cuộc tấn công đánh Cự Nẫm là khai thông đường Tỉnh Lộ 2 để đánh lên các chiến khu, căn cứ kháng chiến của tỉnh và huyện, mở rộng vùng chiếm đóng, chiếm vựa lúa của ta ở Cự Nẫm, triệt nguồn cung cấp lương thực cho kháng chiến. Cán bộ lãnh đạo quê tôi liền nắm được nguồn tin và khẩn trương bày binh bố trận sẵn sàng tiêu diệt quân thù. Các cơ quan kháng chiến của huyện đóng trong làng được dân làng hỗ trợ nhanh chóng chuyển lên Bồng Lai, căn cứ Ồ Ồ và Troóc. Dựa vào thế núi, thế đồi và thế trận chiến đấu của làng, được bộ đội đại đội 3, Đại đội 5 và Đại đội 6 của tỉnh, các tổ du kích trong làng triển khai ngay lực lượng tác chiến từ xa.

          Sáng ngày 1 tháng 3 năm 1948, 350 quân tinh nhuệ của Pháp, có cả máy bay, tàu chiến, đại bác yểm trợ chia làm hai mũi, từ Thụ Lộc theo Tỉnh

                                                         

 (1):Lời bài hát "Cự Nẫm, thôn chiến đấu" của Phạm Hữu Tình

Lộ 2 tiến lên. Chúng bắt 200 người dân của ta đi trước làm lá chắn ngăn cản sự tấn công của ta. Mũi thứ hai là lính thuỷ đánh bộ từ đồn Thanh Khê theo đường Sông Son đánh vào. Cự Nẫm trở thành điểm quyết chiến ác liệt giữa ta và địch. Những chiến công của quân và dân Cự Nẫm đánh tan các cuộc tấn công của địch ở Rú Nguốn, Cồn Tro, Cầu Vàng...lại vang lên khắp toàn quốc. Chỉ trong ba ngày đêm, quân và dân quê tôi đã tiêu diệt 50 tên Pháp, phá huỷ 4 xe quân sự và bắn cháy một ca nô. Trong mưa bom bão đạn của cuộc chiến, đã ngời sáng em Tiêm, mới 16 tuổi dũng cảm ôm bom chặn đánh địch. Chị Lê, bị địch bắt, kiên quyết không để địch tra tấn khai thác, đã nhảy xuống sông hy sinh.

                                                         

 

*

                                                  

  *               *

 

          Chuyện kể rằng: Vào một buổi sáng, khi mặt trời mới bật lên những tia sáng hồng, mọi người chưa ngủ dậy, Tiêm đã dắt bò đến nhà chị Lê.

          - Chị Lê ơi, chị Lê!.- Tiêm đứng ngoài cửa hét to.

          - Có việc chi mà  oang oang không cho ai ngủ ngáy rứa Tiêm?.- Chị Lê hé cửa ra nhìn Tiêm hỏi.

          - Có, chị ra đây em nhờ tý việc.

          Nhìn thấy con bò đang đứng giữa sân, chị Lê nói:

          - Mi định nhờ tao giữ bò chứ gì?. Không được mô, hôm ni đến phiên chị đi tiếp tế, bận lắm...

          - Chị không phải làm mô, mà cứ giao cho bọn thằng Tam chăn hộ cho em với.

          Nói xong, Tiêm quay lưng một mạch chạy đi, phó mặc con bò cho chị Lê. Cậu ta chạy thẳng về phía Rú Nguốn, mang theo cả ống nước lủng lẳng trên vai. Cậu nhảy xuống con hào giao thông, lom khom chạy, như các anh du kích đang vận động khi có giặc đến. Trời sáng dần. Lẽ ra lúc này Tiêm phải dắt bò cùng mọi người sơ tán ra " tuyến thứ hai", nhưng cậu đã có mặt ngay dưới chân vọng gác tiền tiêu ở Rú Nguốn. Từ rất lâu, cậu ta cứ ao ước được leo lên trên chòi cao ấy để ngắm cả đất trời, nếu được thay cha đánh trống báo động khi có giặc đến, được xem các chú du kích làng nã đạn vào đầu giặc thì quá tuyệt vời. Làm sao để được lên trên ấy?. Câu hỏi cứ xoáy trong đầu cậu ta. Cậu cứ núp trong lùm cây suy nghĩ.  "Đét!", cậu giơ cao tay đập mạnh vào cái đùi xương xẩu và bật miệng " thế mà không nghĩ ra", rồi mạnh dạn vọt ra khỏi lùm cây.

          - Cha ơi, con mang nước đến cho cha đây!.- Tiêm ngước mặt nhìn lên chòi gọi.

          - Ai bảo mi đưa nước, sáng rồi răng không dắt bò đi tản cư?.- Cha Tiêm nói với giọng bực bội: - Thôi, đưa nước lên đây rồi về ngay.

          - Cha cứ xuống đây mà uống nước cho thoả mái, để con lên gác thay cho.

          - Tao chẳng cần, đưa nước đây rồi về đi!.

          Biết không thể làm gì được, Tiêm vừa huýt gió, vừa chạy đi một cách vô tư. Ôm ống nước trong tay, nhìn con, cuộc đời của ông lại hiện lên. Ông tên là Nghĩa và chỉ có một mụn con là Tiêm. Khi cậu ta mới lọt lòng thì trong làng có cuộc tập trung để phân bổ sưu thuế. Cũng vì cái nghĩa, cái tình với dân làng, mà ông Nghĩa đã đứng lên tố cáo, vạch trần việc tự ý tăng thuế thân của bọn hào lý trong thôn. Tên lý trưởng xông đến đánh ông tới tấp, làm gãy mất hai chiếc răng cửa, máu chảy đầy đầu, rồi cho bọn tay sai giải lên huyện. Vợ ông phải bán sạch gia sản, chạy hết các cửa quan, ông mới được tha, với phía trước là một cuộc sống cơ cực. Mới sinh con, lại thiếu ăn, ba tháng sau, người vợ thân thương của ông qua đời, để lại cậu Tiêm còn đỏ hỏn. Sóng gió cuộc đời dần trôi qua, bây giờ thì cậu Tiêm đã bước vào tuổi 16...Hình bóng Tiêm khuất dần. Cậu ta như đã mang đi cả tiếng hót của chim, tiếng lùa của gió. Không gian lặng lẽ. Cây cối im lìm. Tâm hồn ông bỗng trở nên trống trải. Ông cảm thấy ân hận vì trót nặng lời với con. Ông thì luôn lo cho tính mạng của đứa con độc nhất, nhưng đối với Tiêm thì quá hiếu động. Gần đây cậu ta tỏ ý muốn xin vào du kích. Vừa chăn bò, cậu vừa tập chôn bom, ném lựu đạn, cầm súng giả chạy dọc hào...làm cho ông lo lắng. Có lần giặc đến, cậu ta trốn ông, chạy theo anh Túc ra bố trí đầu làng, làm cho ông thót cả tim. Ông vẫn biết, vẫn mong con trai mình mang dòng máu yêu nước, thương dân và ghi công vì Tổ quốc. Nhưng, đó là giọt máu duy nhất của vợ chồng ông...Những suy nghĩ mung lung trong đầu ông bỗng tan biến khi có tin giặc ở đồn Vạn Lộc đang chuẩn bị đánh lên Cự Nẫm. Ở ngoài kia, tiếng của anh Túc vang lên:

          - Tất cả ra vị trí chiến đấu!.

          Các tổ du kích chạy như bay về phía Cồn Tro. Trên chòi cao tiếng trống của ông Nghĩa giục lên liên hồi. Tiếng trống hối hả như một bản quân lệnh khẩn cấp. Ai trực tiếp chiến đấu thì sẵn sàng chiến đấu. Ai tiếp tế thì khẩn trương phục vụ. Theo tiếng trống, ông bà già và trẻ em nhanh chóng xuống hầm hào trú ẩn...Khi cả làng đã vào thế trận, thì 4 chiếc máy bay khu trục lao tới, trút bom xuống đình làng. Đại bác địch từ dưới đồn Hoàn Lão, Vạn Lộc dồn dập bắn lên xối xả. Một cánh quân của địch từ Vạn Lộc, dọc theo đường sắt, tiến lên Cồn Tro. Chúng định chọn cao điểm Cồn Tro làm nơi dội đạn xuống làng Cự Nẫm. Càng gần điểm chọn, chúng dồn quân lại bám sát nhau như một lũ kiến lúc nhúc.

          - Diệt...- Tiếng Túc vang lên.

          Tiếng bom, tiếng lựu đạn, tiếng súng đồng loạt nổ rền vang. Quân ta ào ra vung đại đao, mã tấu về phía quân thù. Bị chặn đánh bất ngờ, đội quân của chúng tan ra từng mảng, chồm lên nhau, la rống lên như bò bị chọc tiết. Từ trên chòi cao, ông Nghĩa không rời mắt quan sát và phát hiện thêm một đội quân của địch từ Phú Kinh vòng qua đầu thôn, tiến dọc theo bờ luỹ, âm mưu chặn đường rút lui của quân ta. Ông định cầm dùi đánh chiêng báo động thì bị một viên đạn xuyên vào tay. Một luồng máu đỏ trào ra. Thấy vậy, người gác dự phòng do Túc bố trí vội vàng leo lên, nhưng chưa đến chòi lại bị trúng đạn ngã nhào xuống. Bất thần cậu bé Tiêm vọt ra khỏi bụi rậm, nhanh như sóc trèo lên. Cậu ta đến ôm lấy cha, nhưng bị ông gạt ra và bảo đánh chiêng. Cậu cầm dùi giục chiêng không biết mỏi. Nghe hiệu lệnh, đội du kích chuyển hướng và tiếp tục tiến công địch. Thêm một lần nữa, quân và dân làng tôi chiến thắng.

          Ông Nghĩa nhìn con sướng quá, nước mắt trào ra khoả lấp cả những nếp nhăn. Từ sau trận ấy, đội du kích làng tin tưởng, chấp nhận yêu cầu của Tiêm là ôm bom vào đánh tận sào huyệt của địch ở đồn Vạn Lộc. Cậu đặt gọn quả bom vào trong giỏ đậy nắp lại, rồi giả vờ làm người đi đơm tép, băng qua đồi, qua những cánh đồng của Vạn Lộc, rồi dũng cảm, bí mật chôn bom ngay giữa đồn địch. Khi chiếc xe tăng của bọn sát nhân dẫn đầu đội quân cướp nước đi càn vừa ra khỏi cổng, thì một tiếng nổ vang lên. Chiếc xe bị trúc nhào. Bọn lính láo nháo chạy. Cuộc hành quân càn quét của địch bị chặn đứng, bớt thêm một đợt thảm sát đối với bà con, nhưng Tiêm đã hy sinh khi bị địch phát hiện bắn đuổi, để lại tuổi 16 với bao chiến công và khí phách anh hùng.

Sau trận thắng đó, từ Đồng Hới, tên quan năm đã gửi cho tên quan ba Su-séc-tơ chỉ huy ở Hoàn Lão một bức thư, với những lời cay đắng: " Tôi rất lấy làm xấu hổ cho ngài, cho danh dự của một sĩ quan quân đội đại Pháp, khi nghe tin một dúm dân quê mọi rợ đã đánh gãy cánh quân do ngài chỉ huy. Phải chăng đó là một thử thách đối với tài thao lược của ngài?...Nếu ngày mai số phận hẩm hiu vẫn đến với binh sĩ và cái làng Cự Nẫm ấy vẫn không bị dẫm nát dưới gót dày của đội quân viễn chinh Pháp, thì tôi tin rằng, vâng, tôi tin thế, lịch sử của ngài - một sĩ quan đã từng lừng danh ở Châu Phi, sẽ ghi thêm một vết nhơ không bao giờ rữa sạch!". Cự Nẫm quê tôi lại trở thành làng chiến đấu kiểu mẫu của toàn Liên khu IV. Ngày 31 tháng 5 năm 1948, Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV đã phát động cuộc vận động "thi đua ái quốc" với nội dung: Phát triển và xây dựng nhiều làng chiến đấu Cự Nẫm, đặt giải thưởng " Làng Cự Nẫm" là 100 khẩu súng, 100 quả lựu đạn và phát động "Cuộc vận động Cự Nẫm". Tôi không hề muốn lạm dụng Ký sự này để khuyếch trương quê hương mình, nhưng thực tế trong lịch sử đã để lại như thế. Bây giờ thì đầy rẫy tập thể anh hùng. Có thể nói có gần 90% số xã ở các huyện đã được phong tặng danh hiệu " Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".Nói về đơn vị anh hùng thì dọc đường Tỉnh Lộ 2 không sót một xã nào. Thật đúng là " Ra ngõ gặp anh hùng" như nhiều người đã nói ngày xưa. Nhưng, chính cái ngày xưa ấy, khi nói đến mảnh đất và con người Quảng Bình, người ta chỉ nói đến Cự Nẫm và Cảnh Dương. Hai làng - hai xã - không mang chữ Trạch của huyện nhà, tiếng vang vượt ra khỏi biên giới nước nhà.

          Bây giờ thì giải thưởng bằng bạc triệu, bạc trăm ngàn, có cả xe ô tô và xe máy...nhiều khi vẫn bị chê thưởng ít, còn hồi ấy, hưởng ứng " cuộc vận động Cự Nẫm", để được 100 súng và 100 quả lựu đạn đánh địch, cả Liên khu IV đã thấy quá vinh dự và khắp nơi rộ lên phong trào giết giặc lập công. Các làng dọc Tỉnh Lộ 2, nơi nào cũng vùng lên đánh giặc. Du kích thôn Cù Lạc chặn đánh địch ở đồn Cầu Bùng, diệt 20 tên. Du kích Sơn Trạch chặn đánh bọn địch ở đồn Khương Hà đang đi lùng, bắn chết 44 tên, trong đó có 28 tên Pháp. Du kích Hoàn Lão phục kích đánh bọn địch từ Sen Bàng về, diệt 32 tên và đánh sập Cầu Hói cắt đứt giao thông địch 7 ngày liền. Du kích Xóm Cồn, Xóm Rẫy ( Tây Trạch) phối hợp với bộ đội Tiểu đoàn 49 chặn đánh một trung đội địch từ đồn Thụ Lộc về càn Hoàn Lão, diệt 9 tên, bắt sống 7 tên, thu 21 khẩu súng...Cứ thế, tiếng súng đánh giặc giải phóng quê hương luôn vang lên, chạy dài và lan toả dọc Tỉnh Lộ 2, mang theo bao chiến công, làm cho địch kinh hoàng, khiếp vía. Để rồi:

          " Tây rút Cổ Giang, Tây hàng Cự Nẫm

            Bộ đội không về nhớ lắm chị em ơi!

            Nhớ thương gửi gắm qua đồi

            Sao cho Cự Nẫm thành nơi thao trường"

                                      ( " Gái Cự Nẫm" - Thơ Dương Tử Giang)

          Lẽ đời lại như vậy. Kháng chiến thì mong cho chiến thắng. Địch thua, địch rút, địch hàng, quê hương giải phóng rồi, lại nhớ thao trường, nhớ bộ đội. Quê tôi tham tình, tham nghĩa như vậy.

                                                         

*

                                                   

    *           *

 

          Rồi chiến tranh lại xảy ra. Con đường Tỉnh Lộ 2 và người dân hai bên con đường yêu thương ấy, lại oằn mình vận hành và che chở những đoàn quân, đoàn xe chở đầy vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm, hàng hoá...chở cả tấm lòng hết mình của miền Bắc vào chi viện cho quân và dân miền Nam, đủ sức mạnh quét sạch quân Mỹ - nguỵ. Cũng vì thế mà khi bày ra cái "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", tạo cớ để dùng không quân đánh phá miền Bắc, giặc Mỹ đã chú ý tập trung tàn phá Tỉnh Lộ 2. Đặc biệt là từ sau ngày khai thông Đường 20 Quyết thắng (5 tháng 5 năm 1966), với chiều dài 84 cây số, vượt Trường Sơn, mở ra một hướng tiến công mới trên tuyến hậu cần chiến lược từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, tạo chân hàng cho hệ thống đường Hồ Chí Minh, thì các xã ven đường Tỉnh Lộ 2 như Vạn Trạch, Cự Nẫm, Hưng Trạch, Sơn Trạch trở thành trọng điểm đánh phá vô cùng ác liệt của địch, hòng ngăn chặn tuyến vận tải chiến lược của ta. Mỗi tấc đất, mảnh vườn hai bên tuyến đường này đều thành bãi tập kết hàng hoá, vũ khí chi viện cho miền Nam, thành những cơ sở hậu cần của quân đội, những bãi giấu xe, che pháo, che những đoàn quân vào mặt trận. Những ngã ba Thụ Lộc, cầu Cơn Cầy, Cự Nẫm, Hà Môn, Khương Sơn, Khương Hà, Cổ Giang, Ngã ba Khương Hà, Ngầm Bùng, Bến Vũng, Cầu Hói Rong, Phà Xuân Sơn...trở thành những" tọa độ lửa", "những túi bom đạn" của giặc Mỹ. Không một ngày nào khỏi bị máy bay địch đánh phá. Chúng đánh cả ngày, đánh cả ban đêm. Chúng đánh bằng đủ loại máy bay: " thần sấm" (F105), "con ma"(F4H), AD6, " cánh cụp cánh xoè" (F111), B52, cả máy bay không người lái và có người lái, với đủ loại đạn bom: Róc két, bom bi quả dứa, bom bi cầu - một quả bom mẹ có hàng trăm quả bom con, một quả bom con nổ là hàng trăm viên bi sắt bắn ra khắp nơi, một con chấu chấu cũng khó tránh lọt. Cao hơn nữa là bom tạ, bom tấn, bom sát thương, bom nổ nhanh, bom nổ chậm, bom na pan...Cả vùng quê như thành bãi thử nghiệm các loại vũ khí của Mỹ. Mặt đất lúc nào cũng rung lên. Lớp trẻ bây giờ nghe ra đã như thần thoại, càng không tưởng tượng được rằng chúng còn dùng cả cây nhiệt đới để phát hiện các phương tiện và vũ khí của ta đi qua; bom từ trường nằm im chờ khi có xe và tàu thuỷ, ca nô gần kề bên mới nổ để phá hoại. Giặc Mỹ đã tập trung tất cả những siêu nhân, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cả những phương thức, thủ đoạn và mưu ma, chước quỷ của một cường quốc, hòng huỷ diệt mảnh đất có tuyến đường Tỉnh Lộ 2 chạy qua. Trên đầu trang 204 của cuốn " Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Bố Trạch" đã ghi rằng: " Trên các tuyến chuyển quân, đặc biệt là những xóm làng cây cối rậm rạp, nơi chúng nghi bộ đội dừng chân, xe hàng ẩn nấp như các xã Sơn Trạch, Hưng Trạch, Vạn Trạch, Cự Nẫm... địch đánh rất dã man".

          Vậy mà quân và dân Tỉnh Lộ 2, không mảy may lo sợ. Chúng càng đánh ác liệt, lòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước càng bốc cao. Già, trẻ, gái, trai, mỗi người mỗi việc, tất cả đều dâng toàn bộ những gì mình có cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Công việc đầu tiên mà dân quê tôi làm theo lời Đảng là bảo tồn lực lượng, là đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân. Cả làng lao vào làm hầm. Hầm chữ L, chữ S, chữ A, chữ H, hầm nổi, hầm chìm, hầm trên mặt đất, hầm trên bè nổi trên sông và trên đồng ruộng, hầm cho người, hầm cho gia súc, hầm cho các loại xe vận tải...Nhà hầm cho hội họp, cho trường học, chứa tài sản và vũ khí, chứa hồ sơ tài liệu... Âu tránh bom đạn cho phà, công sự cho trận địa pháo cao xạ và tên lửa, hào giao thông...Chỉ riêng một xã Trung Trạch, chỉ có 870 hộ, với 4150 nhân khẩu, mà đã có 1.131 hầm gia đình, trong đó có 783 hầm chữ A. Ngoài ra, cả xã còn có 997 hầm tập thể đủ cho 100% các lớp học từ nhà trẻ, vở lòng, cấp I, cấp 2, Đảng uỷ, Uỷ ban xã, Ban quản trị hợp tác xã, cửa hàng, trạm xá học hành và sinh hoạt. Ngoài làng thì có 168 hầm chốt của dân quân chống bộ binh đổ bộ, 767 hầm cá nhân, 72 hầm trận địa, 744 hầm cho trâu bò và 1.428 hầm các nhân nối liền với các xã Hoàn Trạch và Đồng Trạch, Đại Trạch, Tây Trạch...Hàng triệu căn hầm, hàng vạn cây số giao thông hào chằng chịt trên mặt đất, rải sít nhau hai bên Tỉnh Lộ 2 từ Hoàn Lão đến Phong Nha.  "Nhà che nắng che sương - Hầm che xương che thịt". Dân quê tôi thường nhắc nhau như vậy và đã tạo ra những làng hầm, giảm bớt được những thương vong khi bị địch đánh phá, bảo vệ an toàn hàng vạn tấn hàng hoá, phương tiện, vũ khí và hàng nghìn chuyến xe chi viện cho tiền tuyến. Làm lụng, chắt bóp lắm mới làm được căn nhà ở, nhưng vì sự tồn vong của Tổ quốc, suốt 9 năm đương đầu với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, hàng ngàn người dân quê tôi đã tự phá nhà lấy gỗ, lấy tranh, tre, đập tường lấy gạch đá san lấp hố bom, chống lầy, lấp cầu cống bị địch đánh sập, làm cầu phao cho xe ta băng băng qua...Khác với bây giờ là sự tính toán thiệt hơn, là tìm mọi cách để làm giàu, có khi làm giàu cả trên thể xác đồng loại, là ích kỷ cá nhân mà gây ra tội ác, phạm pháp, tham nhũng...dân quê tôi thời ấy luôn một ý chí  "Xe chưa qua nhà không tiếc - Đường chưa thông không tiếc máu xương". Nhà thì đập phá lấy vật liệu thông đường thông xe. Ngoài nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước với tinh thần " Thóc không thiếu một cân - Quân không thiếu một người", dân ven đường Tỉnh Lộ 2 còn lấy gạo cháy và gạo ướt của Nhà nước khi bị địch đánh để ăn, lấy gạo ngon của nhà mình đổi cho Nhà nước để bộ đội ăn ngon đánh thắng quân thù...

          Vâng, " Dù ăn rau tàu bay, với hạt muối trường, Quảng Bình vẫn đứng hiên ngang. Mỗi cành lá biếc cũng thành súng gươm, đánh cho giặc Mỹ tan tành...", trong gian khổ và ác liệt,  ý chí đó, tiếng hát ấy mãi vang lên át tiếng bom đạn quân thù. Và, chiến công cứ lan toả, cứ chồng lên nhau trên mặt đường, trên mỗi làng quê bên Tỉnh Lộ 2.

 

                                                         

*

 

                                                *                 *

 

          Cuối năm 1966, con đường Ba Trại đã mở với chiều dài 11 cây số, nối liền Bến phà 2 với Tỉnh Lộ 2 tại Thụ Lộc. Về con đường chiến lược này, đồng chí Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải Dương Bạch Liên nói: "Đây là con đường lý tưởng". Vì đó là con đường tránh, con đường vận chuyển hàng hoá, vũ khí, khí tài và bộ đội vào Nam mà không phải qua các trọng điểm ác liệt như cầu Khe nước, cầu Thanh Khê, Đèo và cầu Lý Hoà, mà xuyên qua đồi núi, theo Tỉnh Lộ 2 lên phía Tây vào Nam.

 Ngay từ thời học sinh cấp ba, trên đường xuyên rừng ra xã Mỹ Trạch học, tôi đã chứng kiến những trận chiến đấu đầy cam go, quyết liệt với đạn bom giặc Mỹ, của các anh, các chị thanh niên xung phong và nhân dân các xã bên Bến Mòn, Bến Mới và đường Ba Trại con đường mà đơn vị của chị Trần Thị Thành và em ruột Trần Thị Minh Thế, Nguyễn Thị Kim Huế, Hoàng Thị Minh Thú, Nguyễn Thị Mỹ Tình, Trần Đức Hè, Hồ Văn Niệm...đã từng chinh chiến. Nơi ấy, theo như nhà văn Nguyễn Khắc Phê nguyên là một cán bộ văn phòng của Ty giao thông Quảng Bình thời đó viết trong bài Trở lại Trường Sơn nhớ về Ba Trại , thì số thương vong nhiều đến mức mãi đến nay vẫn chưa có con số chính xác. Còn trong hồ sơ đề nghị làm tượng đài di tích Nam Gianh, của tỉnh Quảng Bình ghi: Hy sinh tại chỗ 79 đồng chí, bị thương 156 đồng chí, đi cấp cứu số  bị thương nặng hy sinh chưa tính được !.

Hồi ấy, trên tuyến đường Quốc lộ IA, địch thường xuyên đánh, mà điểm tập trung là cầu Thanh Khê, cầu Khe Nước, cầu Lý Hoà. Đường Ba Trại giữ vị trí trọng yếu đảm bảo cho xe đi vào các tuyến Đường 10, 16 giáp Vĩnh Linh và lên Đường 20 Quyết thắng. Không một ngày nào giặc Mỹ không ném bom đánh phá vùng này. Có ngày chúng đánh hàng chục trận. Sự khốc liệt ấy đã được Hoàng Thị Minh Thú người vừa được kết nạp vào Đoàn thanh niên lao động Việt Nam trong trận chiến đấu trên Đồi 37 và đã được đưa vào diện đối tượng kết nạp Đảng, viết trong thư gửi cho bố mẹ: Ở đây, bom toạ độ ngày nào cũng xối xuống, cái chết và cái sống nó gần nhau lắm. Nhưng bố mẹ ạ, chỉ có những người làm cách mạng mới mang tất cả những trái tim dũng cảm để đem lại những kết quả cho Đảng, cho nhân dân. Dù có đổ máu, các con cũng không tiếc tuổi xuân, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì Tổ quốc, vì nhân dân.... Có lần Thú bị thương trên đầu, mặc cho máu chảy bê bết cả mái tóc, vẫn chạy đi cứu đồng đội và kêu y tá đến băng bó cho người bị thương. Đối với người dân vùng Cự Nẫm,  Hạ Trạch hay người qua đường bị thương, Thú cũng đều tận tình cứu chữa. Vậy mà, khi đưa ra xét đề nghị kết nạp Đảng thì lại không được, chỉ vì Thú chăm chút hơi nhiều cách ăn mặc, mái tóc...!. Cái quan điểm của thời ấy là như thế. Có lần tôi cùng đồng chí Phó trưởng ty Công an lên dự hội nghị triển khai chương trình công tác năm. Biết được một nữ trưởng Công an xã có nhiều thành tích, tôi liền lân la đến hỏi chuyện để về viết báo. Liền sau đó, tôi bị gác lại không được kết nạp Đảng trong dịp đó, vì có người nói là tôi quan hệ nam nữ và đi đứng không chững chạc!. Quả là, nỗi oan này chẳng của riêng ai. Trong khi thằng Mỹ đang muốn bắt cả nước ta trở về thời kỳ đồ đá, mà mình thì muốn trau chuốt, trang điểm cho đẹp thêm một tý cũng không được!. Mãi sau cái đêm Hoàng Thị Minh Thú, Tình và Thế  bị hy sinh, bên những tiếng khóc thút thít của đồng đội có chi nửa mô Tình ơi!, Thú ơi!, Thế ơi!, chi bộ mới xét kết nạp Hoàng Minh Thú vào Đảng. Đến như Trần Thị Minh Thế, ngày mới lên huyện Tuyên Hoá tập trung để đi thanh niên xung phong, nhìn Thế quá nhỏ bé và non trẻ, ai cũng khuyên em về, vì đã có chị ruột là Trần Thị Thành đi trong đợt này, nhưng em vẫn không chịu. Và em đã đi, giữa những trận chiến đấu bên bom nổ chậm, rồi mấy chục ngày liền giành giật từng tấc đường dưới hàng trăm loạt bom trên Đồi 37, hay giữa bãi bom B52 dưới chân Đèo Mụ Giạ, lúc nào cũng có mặt Thế, với tiếng hát, tiếng nói nhí nhảnh, lạc quan, có sức xua tan cả không khí căng thẳng, nóng bỏng trên trận địa, mà đến khi được kết nạp vào Đảng, vẫn có người cho là còn trẻ con quá!.

          Mở được tuyến đường Ba Trại, tưởng như tránh được những trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mỹ, nhưng cái " lý tưởng" mà ông Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải từng nói không còn giữ lâu giá trị. Con đường đã bị kẻ địch phát hiện và tìm cách hủy diệt. Không có một buổi nào chúng không đánh. Cả vùng rừng thông Ba Trại và Thụ Lộc, cây to đã bằng một người ôm, bị chúng đánh cháy trụi. Mặt đường, đồi núi, làng quê chằng chịt hố đạn bom. Trên mặt đường bấy giờ chỉ còn thanh niên xung phong công trường Quyết thắng (1) và cảnh sát giao thông. Mỗi lần địch đánh là mỗi lần dân làng hai bên đường đều xông ra cùng công an, thanh niên xung phong và công nhân giao thông san lấp hố bom, chống lầy, đẩy xe qua.

Vào những ngày cuối năm 1967, trời đang rét ngọt bỗng hửng nắng. Những cây thông trên đồi Thụ Lộc nẩy lộc đâm chồi tua tủa, như thắp nến đầy trời. Không khí mùa Xuân Mậu Thân đang tràn về. Thường lệ hàng năm thì đây là đợt vận chuyển cao điểm. Xe chở quân, chở hàng vào ra liên tục. Để phục vụ chiến dịch, từ ngã ba Ba Trại, tổ trưởng tổ cảnh sát giao thông Nguyễn Bá Chưng được điều động vào ngã ba Thụ Lộc, chỉ huy các chiến sĩ Ngô Minh Thuật và Phạm Chí Kiều trên ngã ba vào mặt trận. Khác với mọi hôm, mới 4 giờ chiều 30 Tết, Nguyễn Bá Chưng đã điều động anh em ra vị trí làm nhiệm vụ. Đúng là hôm ấy, có nhiều đoàn xe ra sớm hơn. Vừa hướng dẫn cho mấy chuyến xe vượt qua ngã ba, bỗng có tiếng của Minh Thuật vang lên:

- Anh Chưng ơi, có tiếng máy bay!.

- Bọn Mỹ - nguỵ dã man quá - Chưng chửi rủa: - Tết đến nơi rồi mà còn đánh phá và giết người...

Sau câu nói ấy, bỗng nhiên trong người Chưng rực lên lòng căm giận. Anh quay lại nói với Minh Thuật:

                                                                                               

(1): Công trường Quyết thắng được thành lập từ 3 đại đội thanh niên xung phong: C759 anh hùng (Tuyên Hoá), C751 ( Bố Trạch) và C752 ( Quảng Trạch)

 

 

- Đề phòng bọn chúng đánh càn đó Thuật ạ. Ta lên đèn đi thôi.

Khi màn đêm bắt đầu trùm xuống, thì những ánh đèn phòng không của các chiến sĩ cảnh sát giao thông trên ngã ba Thụ Lộc được đốt lên -  "Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt, như những tâm hồn không bao giờ tắt ... như cả nước đối với miền Nam đêm nào cũng thức...soi cho ta đi đánh giặc trường kỳ...đi nhanh đi nhanh chiến trường đã giục..." (1). Những ngọn đèn soi sáng cho những quân, đoàn xe chở hàng vào miền Nam đánh giặc.

Như đã định sẵn, một tốp máy bay của giặc Mỹ lại kéo đến và thi nhau đổ bom đạn xuống khu vực ngã ba. Cả vùng rực lửa. Lửa của những tràng bom đạn trên trời rạch xuống. Lửa chớp của bom đạn nổ. Lửa cháy rừng

thông. Lửa trùm lên bao sự sống...Bỗng Nguyễn Bá Chưng phát hiện có xe chạy đến . Đèn gầm ô tô chiếu thẳng vào mặt anh . Bên tai anh có tiếng trẻ nhỏ. Đoán chắc là xe chở người đi sơ tán, anh chạy ra mặt đường.

- Có phải xe chở K8 không? - Anh dùng tay làm loa  và nói to.

- Đúng rồi đồng chí ạ! - Người lái xe ló đầu ra khỏi cửa ca bin trả lời.

Anh ra hiệu và hướng dẫn cho lái xe vượt qua vòng vây lửa, rồi chạy thẳng ra đường Ba Trại. Đoàn xe chở các em K8 vừa vượt qua ngã ba được chừng 10 phút, thì máy bay địch lại bổ nhào đổ bom đợt khác. Chiếc xe cuối cùng bị một viên Rốc két bốc cháy. Trong tình thế hiểm nguy, Nguyễn Bá Chưng liền nhảy lên xe cùng với lái xe mở cửa thùng xe, bảo các cháu nhảy xuống.

          - Các cháu hãy theo chú chạy mau lên!.

 Anh vừa bế các cháu nhỏ vừa hô hào các cháu chạy theo về phía trái ngã ba đường. Ở đó, có mấy hố bom rất sâu và một đoạn giao thông hào thanh niên xung phong vừa đào xong. Sắp xếp chỗ trú ẩn xong, anh giơ tay đếm từng cháu một rồi hỏi:

- Đoàn của ta 40 cháu phải không?.

- Thế là đủ rồi anh ạ!. - Người lái xe trả lời.

Nguyễn Bá Chưng giao cho Minh Thuật tìm cách đưa các cháu ra khỏi vùng nguy hiểm rồi trở lại ngã ba làm nhiệm vụ. Máy bay Mỹ lại đến ném bom. Anh vừa hướng dẫn cho một đoàn xe nữa chạy thoát khỏi ngã ba ác liệt, thì một quả bom sát thương nổ ngay bên cạnh. Anh ngã xuống. Cả bộ trang phục cảnh sát màu vàng, máu nhuộm đỏ tươi. Đôi môi vẫn ngậm chặt chiếc còi, tay giơ về phía trước, như đang chỉ dẫn cho những đoàn xe vượt tuyến. Từ phía tuyến hào giao thông vang lên tiếng gọi " Chưng ơi!", " Chú Chưng ơi!" của Minh Thuật và các cháu.

Người con của quê hương Xô - viết Nghệ Tĩnh ấy  anh dũng hy sinh trên mảnh đất Quảng Bình " Hai giỏi", sau khi đã dành trọn mùa Xuân cho

                                                                  

(1):Trích thơ " Ngọn đèn đứng gác" của Chính Hữu

40 trẻ thơ. Anh ngã xuống khi cả nước đang chuẩn bị đón giao thừa, đón tết nguyên đán, đón xuân Mậu Thân - 1968. Cả nước ghi công anh. Nhà nước đã truy tặng anh Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cũng vào cái đêm hôm ấy, theo như nhà báo Mỹ Don Oberdoifer với cuốn "Tết" kể rằng: Có một ca sĩ đến dự bữa tiệc tại Nhà Trắng giơ tay chỉ vào mặt đệ nhất phu nhân của Tổng thống Mỹ trước mặt hơn năm mươi vị khách nói: " Bà cũng là một người mẹ, mặc dù bà chỉ có con gái mà không có con trai, tôi là một người mẹ và tôi hiểu cảm giác khi đứt ruột đẻ đứa con. Tôi có một đứa con và rồi bà đẩy nó ra đánh nhau. Bọn trẻ nổi loạn có gì là lạ". Còn ở thị trấn nhỏ Abevin bang Carôlina Nam, Tom Ôconnotrê - một sĩ quan lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ, từ Việt Nam trở về trong chiếc quan tài phủ cờ Mỹ. Đó là một ngày lạnh giá và người cha của anh ta nhớ lại trước đây đứa con mình thích thú được xỏ giày ủng và nai nịt kỹ càng đi qua các cánh đồng để vào rừng du ngoạn. Ông muốn khóc nhưng thấy rằng không thể khóc nỗi và đã ghi lại ý nghĩ của mình:" Tôi không thể chấp nhận cái chết của con tôi là theo ý Chúa. Tôi chối từ một Chúa trời, người đã sáng tạo ra tốt đẹp biết bao, rồi lại đang tâm phá bỏ. Chúa trời mà tôi sùng bái là đấng sáng tạo. Con tôi đã bị huỷ diệt. Tôi sợ rằng đó là do tôi, do anh và ý chí con người đã khước từ ý chúa...". Và chắc chắn rằng, bấy giờ, ở xã Thanh Trường, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, người mẹ đã từng mang nặng đẻ đau, sinh ra Nguyễn Bá Chưng, càng quặn đau gấp mấy lần ông ta, nhưng đành phải nén lại. Cho dù bây giờ nhiều người cho rằng thần kinh, hoặc điên tàng... thì thời ấy: "Mẹ rằng cứu nước còn chờ đợi ai". "Thà quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!" vẫn  là câu khẩu hiệu hùng hồn, là tinh thần của người Việt Nam  như vậy. Được góp công, góp sức cứu nước, phục vụ đất nước "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", như thơ chúc tết của Bác Hồ, để giành lại độc lập tự do, chẳng một ai sợ chết. Trong cuộc chiến sống chết với mặt đường Ba Trại, theo khẩu hiệu hành động " Đường chưa thông không tiếc máu xương", với tinh thần lạc quan của lứa tuổi hai mươi, Hoàng Thị Minh Thú, chiến sĩ tiểu đội 6 đã viết thư cho mẹ: " Tuyến đường các con phụ trách rất gay go, ác liệt. Hố bom chi chít. Không lúc nào vắng tiếng bom rơi, đạn nổ. Cái sống và cái chết rất gần. Con quyết không đổi cho ai vị trí chiến đấu này...". Và, Hoàng Thị Minh Thú, rồi tiểu đội trưởng Lê Thị Anh Đào...những con người đang tràn đầy sức sống, những cái tên tươi thắm đã anh dũng nằm lại trên mặt đường, nâng từng chuyến xe và từng đoàn quân vào mặt trận.

 Một điều trùng hợp vĩ đại hiếm có, là cùng với chiến công của anh, cả miền Nam đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy, liên tiếp, dồn dập đánh vào quân Mỹ - nguỵ. 12h35 phút quân ta tấn công vào Nha Trang, kéo dài 14 tiếng đồng hồ. 1h35 đánh vào Buôn Mê Thuột, 2h Kontum, 2h35 Hội An, 3h30 Đà Nẵng, 4h10 Qui Nhơn, 4h40 Pleiku...Tiếng súng Tổng tấn công và nổi dậy rền vang, như một sự phản ứng dây chuyền cực mạnh, liên tục nã vào đầu quân Mỹ - nguỵ.

Ở Huế, trận pháo kích bắt đầu từ lúc 3h30 sáng làm rung chuyển cả thành phố. Các đường đạn vun vút làm sáng rực cả bầu trời, rồi từ từ hạ xuống phát ra một thứ ánh sáng lạnh lẽo toả lên các thành luỹ, các biệt thự và lâu đài cổ kính. Tiếng súng liên thanh nổ lách tách trên các đường phố. Hai tiểu đoàn quân giải phóng vượt băng qua các cầu và các hào phòng thủ yếu ớt, qua các cổng gỗ đã mục nát, xuyên qua các cổng chính xông thẳng vào Hoàng cung. Cuộc chiến đấu dữ dội đã xẩy ra ở xung quanh sân bay quân sự. Kho đạn bị nổ. Kho xăng bốc cháy ngùn ngụt khói đen. Từ 31 tháng 1 đến ngày 24 tháng 2 năm 1968, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng bay phấp phới trên cổng thành. Phần lớn phố xá, cùng với hàng chục vạn dân đã thuộc quyền kiểm soát của quân cộng sản. Cả 64 thành phố, thị xã, thị trấn trong đó có Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và nhiều vùng nông thôn miền Nam nổi dậy, đưa chiến tranh vào tận hậu phương địch, đánh trúng các cơ quan đầu não và sào huyệt của địch, tiến công 45 sân bay và hàng loạt căn cứ quan trọng. Trong chiến cuộc Xuân 68 quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 200.000 tên địch, trong đó có 70.000 tên Mỹ và chư hầu, làm tan rã 210.000 quân nguỵ, bắn rơi và phá huỷ 3400 máy bay, diệt 5.000 xe tăng và xe cơ giới, 490 khẩu pháo, 330 tàu xuồng, giải phóng hơn 1.000 thôn ấp với 1.600.000 dân...

Trước khi xẩy ra cuộc ném bom như muốn huỷ diệt sự sống trên ngã ba Thụ Lộc và trước khi xẩy ra cuộc tổng công kích mùa Xuân 1968 của Việt Nam, Nước Mỹ đã không có điều gì vui vẻ. Họ đang bước vào năm bầu cử với nền kinh tế thịnh vượng hơn, nhưng lại trong tâm trạng buồn rầu, trống rỗng và lo âu. Niềm lạc quan của dân tộc này đã bị mòn mỏi bằng những bất hạnh. Các lực lượng vũ trang thì đang bị kìm chặt ở Việt Nam, những hứa hẹn về thắng lợi thì không đạt được và chiếc tàu tình báo Pucblo thì bị Bắc Triều Tiên bắt giữ. Đoàn thuỷ thủ trên tàu bị lùa đi như một đàn cừu trên màn ảnh ti vi. Hạ nghị sĩ Giônathân B.Binhâm từ Oasinhtơn viết về cho cử tri vùng Bron xơ: " Tôi không nhớ lại một thời nào mà những người Mỹ xem ra lại u sầu, chán nản và hổn loạn đến thế và có những sự chia rẽ, thiếu tin tưởng và cả sự thù ghét đến thế...".

Các anh các chị đã ra đi mang theo cả danh hiệu người đảng viên vì sự sống con đường, đến nay đã hơn 40 năm. Con đường một thời các anh các chị đã hy sinh, đã đổ máu hồi ấy, bây giờ đã rải nhựa từ Cầu Gianh lên tận Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha Kẻ Bàng, nối liền với đường Hồ Chí Minh, đưa đón hàng vạn du khách khắp nơi đi du lịch, đến với làng chiến đấu Cự Nẫm ba lần được tuyên dương danh hiệu đơn vị anh hùng, đến với Phong Nha đệ nhất động, cùng với hàng chục hang động nổi tiếng, trong đó có Động Sơn Đoòng rộng nhất thế giới, đến dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ ở tượng đài thanh niên xung phong và tám thanh niên xung phong anh hùng ở Hang tám cô, lên  tham quan các di tích lịch sử quốc gia: Cổng Trời, Cha Lo, Mụ Giạ, Khe Ve, Trà Ang, Đồi 37, Ngầm Ta Lê, đèo Phu La dích... Ngay con đường Ba Trại này và ngã ba Thọ Lộc nơi mà nhiều anh chị và anh hùng liệt sĩ Nguyễn Bá Chưng đã anh dũng hy sinh để cứu mấy trăm cháu K8 đi sơ tán trong đêm 30 Tết Mậu Thân cũng vừa được công nhận di tích lịch sử quốc gia. Hai bên đường là rừng thông bạt ngàn vi vu dạo nhạc trong gió, với núi non huyền diệu, bên Hồ Vực Sanh chẳng kém thua Hồ Xuân Hương và nhiều thung lũng tuyệt vời đẹp hơn nhiều thung lũng tình yêu ở Đà Lạt. Bên đường là khe suối bốn mùa chảy róc rách trên những hòn đá nhiều hình thù thích thú. Từ con đường mà các anh các chị đã gắn bó năm xưa, du khách có thể phóng xe ra bến Mới, bến Mòn tắm mát với dòng nước trong xanh như ngọc, hoặc du thuyền trên sông Son ra cửa Gianh hay lên Phong Nha để chiêm ngưởng bao danh lam thắng cảnh, và nhớ lại một thời hoa lửa...

 

 

                                                *

                                           *          *

 

Cách ngã ba Thụ Lộc về phía Tây hơn ba cây số là ngã ba Khương Hà. Nơi đây được gọi là cửa ngõ vào chiến trường miền Nam và chiến trường Lào. Ngã ba hội tụ, cũng là điểm xuất phát của ba tuyến đường chiến lược: Tỉnh Lộ 2 - Đường 15 - Đường 20. Ngã ba nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Xuyên qua các tuyến đường là dòng sông Son dài 12 cây số, cũng là tuyến đường vận chuyển hàng hoá từ Cảng Gianh lên. Đường bộ, đường sông chen nhau tạo ra trên các tuyến giao thông 5 cầu, 11 ngầm và hai bến phà Xuân Sơn A - Xuân Sơn B. Vùng đất có vị trí quan trọng này có đến 30 cơ quan và đơn vị quân đội đóng quân. Có Binh trạm 26, Binh trạm 14, Binh trạm 12, Quân y viện 559, có bến trung chuyển Khương Hà, 16 tổng kho hàng hoá và vũ khí với 44.611 tấn, gần 1000 người làm nhiệm vụ bốc vác hàng trên các bến bãi, cùng nhiều đơn vị thanh niên xung phong và cầu đường. Vùng đất không một ngày nào vắng tiếng gầm rít của các loại máy bay và tiếng nổ tàn bạo của các loại đạn bom giặc Mỹ. Từ trên vùng đất mang tính đụng đầu lịch sử này, Phạm Tiến Duật đã vút lên những vần thơ " Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây":

                   "... Đường ra trận mùa này đẹp lắm

                     Trường Sơn Đông với Trường Sơn Tây

  ... Đường chuyển đạn và đường chuyển gạo

                     ... Từ nơi em gửi đến nơi anh

                     Những đoàn quân trùng trùng ra trận

                     Như tình yêu nối lời vô tận..."

 Ở một góc trên ngã ba đó, có một đơn vị công an, với phiên hiệu là Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà. Họ được giao trọng trách bảo vệ hành quân, trú quân, bảo vệ tài sản, đảm bảo giao thông thông suốt và an toàn.

Từ năm 1966, anh hùng Nguyễn Bá Chưng đã được điều động lên đây. Và, chỉ không đầy hai năm, người anh hùng ấy đã cùng đồng đội và các lực lượng khác, năm lần lao vào giữa mưa bom, bão đạn của quân thù hướng dẫn giải thoát cho 30 xe hàng, đưa được 46 bộ đội bị thương ra khỏi vòng vây đánh phá của địch đi cấp cứu, dập tắt lửa cứu 12 xe hàng và 50 tấn gạo đang bị địch đánh cháy, tổ chức đưa 42 chiến sĩ quân đội về nơi an nghỉ cuối cùng... Sau cái đêm anh hy sinh trên ngã ba Thọ Lộc được một năm, đế quốc Mỹ đã phải xuống thang, tạm ngừng dùng không quân đánh phá miền Bắc, nhưng suốt ba năm ấy (1969 - 1971), chúng vẫn dùng đủ loại máy bay đánh phá vùng đất quanh ngã ba Khương Hà này 45 trận, có ngày 22 trận liền. Có lần chúng đánh suốt 3 ngày liền trên một chặng đường 10 cây số. Có nghĩa là, chúng có thể ngừng bắn phá ở mọi nơi, nhưng vùng đất này không thể tha thứ được. Ngừng đánh phá, ngừng ngăn chặn các hoạt động trên ba tuyến đường này là ở miền Nam quân số, số lượng hàng hoá và vũ khí của "Việt cộng" sẽ tăng gấp bội. Chúng cứ đánh và đánh liên tục. Chỉ tính trong năm 1972, 13 cán bộ chiến sĩ Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà đã phải đương đầu với hơn 700 trận đánh phá của giặc Mỹ...

Vào đầu Xuân năm 1973, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, đế quốc Mỹ cam chịu thất bại và chấm dứt chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, tôi trở lại vùng đất phía Tây huyện Bố Trạch, với nhiệm vụ giúp Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà xây dựng thành tích đề nghị tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Người dân vùng trên, từ cán bộ xã đến lão nông điền vốn hiền từ, chất phác, " có chi nói nấy", đã nói với tôi rằng:

- Kể thành tích của các chú công an trạm Khương Hà răng mà hết nổi!. Dân quê tui cũng mang ơn các chú ấy nhiều...

Thế mà rồi họ cũng say sưa ngồi kể. Họ kể rành rọt như chính người trong cuộc. Từng chứng kiến vài trận của các anh trong mấy lần đi viết báo trong lúc còn bom đạn của chiến tranh, giờ ngồi nghe lại cứ như là chép lại.

Lúc đó là 12 giờ trưa ngày 21 tháng 3 năm 1971. Cả miền Bắc đang bình yên, bỗng giặc Mỹ cho nhiều tốp máy bay đến đánh phá vùng kho NP thuộc Binh trạm 26. Chúng đánh liên tục với đủ loại bom, đạn. Mỗi loạt bom rơi, là mỗi lần vùng kho trung chuyển Khương Hà rung lên, rồi chìm trong khói bom và bụi đất mù mịt. Khi cán bộ chiến sĩ Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà vượt qua 7 cây số dày đặc bom đạn, đến tận nơi, thì cả vùng kho đã bốc cháy. Ngọn lửa gặp gió càng bốc cao. Lửa cháy các kho vải, cháy nilon và hoá chất. Một số kho đạn không chịu nỗi sức nóng bùng nổ. Bất chấp hiểm nguy, theo sự chỉ huy của chuẩn uý Hoàng Hữu Nờ, các chiến sĩ trong trạm cùng lực lượng cảnh sát chữa cháy xông vào chia cắt lửa, vận chuyển, phân tán hàng hoá. Trong lúc máy bay địch đang tập trung đánh phá, chiến thắng một đám cháy ở tầng thấp đã khó, ở đây các chiến sĩ phải quần nhau với giặc lửa trên tầng cao 4 mét. Cái khó là làm thế nào đập tắt được lửa mà hàng hoá không bị hỏng.

- Phải gạt lửa xuống! - Chuẩn uý, trạm phó Hoàng Hữu Nờ nói to như ra lệnh.

Vừa nói, Nờ vừa vác đòn gỗ rẽ lửa khói leo lên tường kho. Theo anh, ba chiến sĩ cảnh sát áo vàng mấy lần dồn sức leo lên, nhưng đều phải nhảy xuống để tránh mảnh bom và đạn bay qua đầu. Chậm vài phút có thể vài tấn hàng hoá bị thiêu cháy. Từ suy nghĩ đó, Nguyễn Thế Cảnh và Nguyễn Minh Quí kiên quyết leo lên. Nờ liền đẩy một đầu đòn gỗ qua cho Cảnh. Đòn gỗ của Nờ và Cảnh kéo đến đâu, ngọn lửa lùi đến đó, để lộ rõ những hạt gạo trắng tròn, làm cho các anh càng hăng hái hơn. Thấy biện pháp của Nờ hay, các chiến sĩ trong trạm liền phân công nhau mỗi người chạy đến một kho, hướng dẫn lực lượng cứu chữa làm. Chỉ sau một giờ đồng hồ, năm kho hàng tường cao trên bốn mét, đang chứa 1200 tấn hàng được cứu thoát khỏi vòng vây lửa. Cả vùng kho này vừa thoát khỏi giặc lửa, thì vùng kho bên cạnh bị chúng đánh bốc cháy. Đó là một vùng kho tường cao trên 5 mét. Lúc này, Đội cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh đã đến. Dọc đường đi, họ đã phải luồn lách qua hàng trăm làn bom rơi đạn nổ của địch, phải nhặt hàng chục quả bom bi chưa nổ để mở đường cho xe, nhiều lần phải triển khai đội hình chiến đấu ngay trên mặt đường, cứu các xe hàng bị cháy và cũng để mở đường tiến về vùng kho NP. Các chiến sĩ Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà: Hoàng Hữu Nờ, Lê Đình Vũ, Phan Văn Quyết, Đinh Quang Sóc, Nguyễn Thế Cảnh, Nguyễn Minh Quí...lao vào phối hợp chiến đấu. Vốn chưa quen lăng vòi, các chiến sĩ cảnh sát giao thông liên tục bị áp suất vòi quất ngã. Mặc cho bom rơi đạn dội trên đầu, mặc cho đói khát và mùi khét nồng nặc của các hoá chất và ni lon bị cháy xông lên làm cho nhiều người dân bị ngạt thở, các chiến sĩ công an vẫn chiến đấu không biết mệt mỏi. Người này mệt không còn đủ sức cầm lăng vòi, thì người khác xông lên thay thế. Những luồng nước cực mạnh xé đám cháy ra từng mảnh, rồi đánh tan toàn bộ các đám cháy, tiếp tục giải thoát cho 1500 tấn đạn, hàng quân nhu, lương thực, thực phẩm. Cứ như thế, họ đã dũng cảm chiến đấu trên mảnh đất này trên 700 trận, đối đầu với hàng ngàn tấn bom đạn, với " thần chết", để cùng với nhiều lực lượng khác cứu sống hàng trăm người bị thương, bị sập hầm và cứu lại hàng chục ngàn tấn tài sản Nhà nước phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi...

Họ say sưa kể về một con người như là một thần tượng. Đó là chuẩn uý Hoàng Hữu Nờ. Anh sinh ra ở làng Kẻ Ngói ( Hoàn Trạch), bên Tỉnh Lộ 2. Đồng đội của anh thường gọi là " Dốc Nờ", bởi mở miệng ra là toàn nói chuyện " bốc phét". Trên trời, dưới đất, chuyện chi anh cũng biết. Chuyện rằng: " Anh đá bóng qua cả cây đa làng". Nghe vậy đã thấy láo toét rồi. Chả là hồi ấy, ở làng của anh, bên Tỉnh Lộ 2 có một cái giếng lạn nhưng lúc nào cũng đầy nước trong vắt. Dân làng đi làm về giữa trưa hè ngã nón múc nước uống mát tận từng đoạn ruột. Bên giếng nước có một cây đa to đến ba người ôm không hết. Leo đến gần đỉnh cây có thể nhìn thấy cả Hoàn Lão. Anh còn kể: " Nhà anh có một cây chuối, mỗi tàu lá như một chiếc võng đủ cho hai bộ đội nằm. Cả cây có hơn mười tàu lá như vậy. Bộ đội hành quân qua chẳng cần giường chiếu...". Con người giàu tâm hồn ấy, chính là người đầy năng động, dũng cảm, tận tuỵ và hết lòng vì dân. Năm 1973, tôi được đọc nhiều bài báo viết về anh. Trong đó có bài " Sống giữa lòng dân", đăng trên báo "Nhân dân" của Bát Ngũ, viết: " Về đến Trạm, Nờ vừa cởi ba lô gác lên dàn. Anh định bụng vào giường ngủ một giấc, bù lại mấy ngày mất ngủ, lại chiến đấu căng thẳng trên bến phà Xuân Sơn. Bỗng có tiếng gõ cửa.

- Ai đó?. - Nờ hỏi.

- Chú Nờ phải không?

- Dạ, chi rứa mệ?

Nờ vừa nói vừa ra mở cửa. Mẹ Khang chạy vào ôm chầm lấy anh. Mẹ đưa hai tay sờ khắp người anh như kiểm tra có mất mát gì không. Mẹ ngắm nhìn anh.

- An toàn chứ con?.- Mẹ nói trong nước mắt:- Từ bữa con đi công tác, nghe máy bay đánh trên vùng phà dữ quá, mệ ngủ không yên. Cái bụng của mệ lúc nào cũng nóng như lửa. Nghe tin con đã về, còn mấy đậu xanh, mệ nấu cho bát chè trong ấy, vào ăn đi cho mát  rồi nghỉ...

Giữa mảnh đất không một ngày vắng tiếng bom rền đạn nổ này, không chỉ có mẹ Khang, hay bà con xã Hoàn Trạch quê anh, mà mọi người dân ở miền Tây huyện Bố Trạch đều coi Hoàng Hữu Nờ như người thân của mình. Ông Trần Nghị, đội trưởng đội sản xuất số 6 xã Hưng Trạch nói:

- Chú Nờ thật là một người công an hết lòng vì nước vì dân. Suốt 9 năm lên bám đất, bám dân, công tác và chiến đấu trên địa bàn này, không lúc nào thấy chú nghỉ ngơi. Hết lao vào nơi địch đang đánh phá để cứu dân cứu hàng, lại ra đường nhặt bom bi chưa nổ vương vãi và cùng thanh niên xung phong chống lầy, san lấp hố bom cho xe qua, lại đến tận các gia đình trong vùng giúp dân làm hầm, giúp đỡ người già đủ thứ việc. Dạo tháng 9 năm 1972, cả xã Hoàn Trạch quê anh bị máy bay B52 đánh chà đi xát lại nhiều lần tan nát, nhà cửa của anh bị cháy trụi, anh vẫn kiên cường bám chắc trụ vững trên vị trí công tác của mình, lại còn lấy 20 kg gạo của mình dành dụm lâu nay giúp các gia đình bị thiệt hại. Đã thế, từ dưới quê, chị Bén, Phó ban công an xã, là người vợ hiền thân yêu của anh lại viết thư gửi lên động viên anh yên tâm, công tác và chiến đấu giỏi. Bức thư ấy đã được buổi phát thanh "Vì an ninh Tổ quốc" đài Tiếng nói Việt Nam phát đi phát lại mấy lần. Đài báo ngợi ca nhiều chiến công của anh. Dân trong vùng ai cũng thương mến anh, thấy anh đi đâu lâu ngày là nhớ, là lo...".

Họ kể về anh, với những chiến công chỉ huy và cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, cứu 18 pháo thủ bị bom vùi, khi trận địa pháo của Trung đoàn 214 bị địch tập trung đánh phá ngày 27 tháng 5 năm 1972 và chuyển hàng chục người bị thương đi cấp cứu. Chiều ngày 11 tháng 6 năm 1972, giải thoát cho 60 chiếc xe chở đầy hàng ra khỏi vòng vây đánh phá của giặc Mỹ. Và, cho đến bây giờ, dù đi xa, ở xa, dù thời gian có lùi xa về quá khứ, nhưng khi nhìn vào hạnh phúc gia đình, chị Hạnh ở Quốc doanh chiếu bóng Quảng Bình và những người đi trên chiếc xe khách từ Minh Hoá về Đồng Hới ngày 21 tháng 9 năm 1971 không thể quên được công ơn của chuẩn uý Hoàng Hữu Nờ và đồng đội của anh. Hôm ấy, trời nóng như đổ lửa, miền Bắc đang trong thời kỳ đình chiến. Chiếc xe khách vừa đến bến phà Xuân Sơn, thì bị nhiều tốp máy bay địch lao đến bắn phá. Từ trên động Phong Nha nhìn thấy, Nờ nhanh chóng đạp xe về nơi chiến sự. Bấy giờ, trên trời là từng lũ máy bay gầm rít và thi nhau đổ đạn bom xuống mục tiêu là chiếc xe và phà Xuân Sơn. Dưới mặt đất, bom nhỏ bom to, đạn roóc két nổ chồng lên nhau chi chít. Anh vẫn dũng cảm lao vào cùng đồng đội và dân phòng trong vùng cứu được hàng chục khách đi đường. Sau khi chữa lành vết thương, chị Nguyễn Thị Hạnh, được Hoàng Hữu Nờ cứu sống trong trận ấy đã gửi về Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà bức thư viết:" Nếu như không được anh đến cứu kịp thời, thì chắc cuộc đời của em đã bị kết thúc trong những loạt bom giặc Mỹ gây ra hôm ấy. Công ơn của anh không thể gì sánh nổi đối với cuộc đời em. Ơn đó em ghi nhớ suốt đời"...Giành từ trong lửa đạn chiến tranh hạnh phúc cho bao người và đảm bảo cho " Những đoàn quân trùng trùng ra trận", những cán bộ chiến sĩ cảnh sát giao thông Trạm Khương Hà đã dành trọn tất cả niềm tin yêu của Đảng, của dân. Năm 1973, Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà và chuẩn uý Hoàng Hữu Nờ đã vinh dự được Đảng và Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngay trên mảnh đất mà Trạm cảnh sát giao thông Khương Hà đứng chân, chỉ tính trong năm 1972, cả xã Hưng Trạch đã hơn 30 lần bị máy bay Mỹ ném bom rải thảm. Hơn 300 người dân vô tội bị bom đạn Mỹ sát hại. 400 liệt sĩ ở khắp mọi miền Tổ quốc đã anh dũng chiến đấu và nằm lại nơi đây. Nhà thờ Gia Hưng bị san phẳng, hơn 1000 nóc nhà của dân thành tro bụi...Nhưng, vâng, đối với người Quảng Bình nói chung, người Hưng Trạch nói riêng thì " Nhà tan cửa nát cũng ừ - Đánh thắng giặc Mỹ, cực chừ, sướng sau". Cả xã vẫn kiên cường bám trụ, chịu đựng tất cả mọi hy sinh, mất mát và gian khổ, vừa phục vụ chiến đấu, phá hơn 400 quả bom từ trường và bám đường đảm bảo an toàn giao thông, cả xã đã  chiến đấu bắn rơi một máy bay F4H và bắt sống 3 giặc lái Mỹ. Từ trong chiến tranh ác liệt, dù nhiều mất mát, đau thương, nhưng cả xã đã tiễn đưa 800 lượt con em lên đường nhập ngũ và đã có hơn 100 con em vĩnh viễn nằm lại trên khắp các chiến trường.

Bên cạnh xã Hưng Trạch là Cự Nẫm quê tôi - nơi đứng chân của các binh trạm bộ đội, nơi đưa đón những đoàn quân ra Bắc, vào Nam, tập trung nhiều hàng hoá quân sự và lương thực, thực phẩm phục vụ cho quân đội. Từ đây, quân ta có thể ra theo đường Ba Trại, đi theo Tỉnh Lộ 2, Đường 15...Và, trở thành trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ. Cái máu anh hùng trong đánh Pháp, cứ luôn trào lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cùng với tiễn hơn 300 con em vào chiến trường đánh Mỹ, vừa trọn việc hậu phương, quê tôi còn bắn cháy một máy bay F105 của Mỹ. Một điều kỳ lạ hơn là trong đạn bom và khói lửa chiến tranh ác liệt, vừa chiến đấu giỏi, quê tôi vừa sản xuất giỏi, vượt cả Đại Phong nổi tiếng cả miền Bắc lúc bấy giờ, trở thành hợp tác xã đầu tiên của tỉnh Quảng Bình đạt 3 mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp được Quốc Hội tặng cờ và tuyên dương " Đơn vị Anh hùng lao động" năm 1966, được Bác Hồ gửi thư khen và tặng quà, tiếp đó lại được tuyên dương " Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Nói đến cái chất anh hùng của quê hương, tôi lại nhớ đến một câu trả lời khẳng khái trước Đảng, trước tổ chức: "Tôi bé, nhưng bé hạt tiêu" của  Nguyễn Bình. Bấy giờ Bình chưa đến tuổi mười tám. Gia đình chỉ có hai anh em, bị mồ côi cha mẹ từ lúc còn nhỏ. Năm 1967, người anh trai đã dũng cảm hy sinh khi đang làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông. Trước cảnh đau thương, mất mát của quê hương và gia đình, Bình đã xung phong đi hoả tuyến bằng được. Rồi Bình được vào chiến trường B5. Khi giao nhiệm vụ, thấy vóc dáng người Bình quá nhỏ bé, đơn vị ai cũng thương, xem như đứa em út còi cọt và giao làm những việc nhẹ nhàng. Ngay từ đầu, Bình đã nổi nóng, dương đôi mắt đỏ lừ và khuôn mặt đỏ rực như đang bốc lửa về phía người chỉ huy nói to: " Các anh đừng khinh tôi nhỏ người. Tôi bé nhưng bé hạt tiêu. Tôi có sức đây. Tôi là người dân Cự Nẫm, có gan của người Cự Nẫm. Các anh cứ giao việc lớn cho tôi làm...". Trong một lần chuyển thương binh về tuyến sau, đội hình Bình tham gia bị máy bay giặc Mỹ lao đến đánh. Bình đã anh dũng hy sinh, khi đang lấy thân mình che chở bảo vệ sự sống cho một thương binh. Bình đã ra đi, chỉ để lại cho quê hương tấm Huân chương chiến công của Mặt trận giải phóng miền Nam tặng.

Tôi lại nhớ về mạ tôi - một người mẹ cần mẫn, hiền lành, giản dị, rất mực yêu chồng thương con. Cha tôi đã bị máy bay giặc Mỹ giết hại giữa mùa hè năm 1968 khi tôi mới thi tốt nghiệp lớp bảy được hai môn. Anh trai tôi lúc ấy còn ở tận chiến trường miền Nam. Hôm ấy, trời nắng như đổ lửa. Mới bước ra khỏi phòng thi ở Xóm Cháy, nhiều bà con đã ôm lấy tôi vừa khóc nức nở, vừa kể lể những ân đức của cha tôi. Dọc đường về, tôi cứ bị nhiều người ôm chầm, thương xót như vậy. Tôi chẳng được gặp mặt cha tôi lần cuối đâu. Bà con đã đưa cha tôi đi rất nhanh. Chiến tranh là như thế. Suốt cả buổi trưa nặng nỗi căm thù ấy, tôi chẳng khóc đâu. Thầy chủ nhiệm Đinh Xuân Đại và các bạn đến động viên. Mạ tôi cũng động viên : " Đằng nào thì cụ ( cha) cũng đã mất rồi, chiều con cố gắng tiếp tục đi thi cho trọn, làm bài cho tốt, con phải vào được cấp ba và học giỏi để sau này phục vụ Tổ quốc tốt hơn". Quả thực là cả thầy giáo chủ nhiệm và tôi không ngờ trong nước mắt và nỗi đau lớn mà mạ tôi lại nói được câu nói như một chính trị viên vậy. Và, tôi đã đạt loại khá trong kỳ thi tốt nghiệp, nhưng sau đó Chính quyền xã muốn giữ tôi ở nhà không cho đi học, để làm việc xã, vì tôi có quá nhiều năng khiếu. Mạ tôi không chịu, mang khăn tang đến tận từng nhà các ông cán bộ xã xin cho tôi đi học bằng được. Khi tôi đi học cấp ba ngoài Mỹ Trạch, ở nhà mẹ tôi đã hiến cả nhà và vườn cho Binh trạm giao liên làm kho. Hàng trăm tấn hàng đủ loại: quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm...đều được căn nhà ngói ba gian, gỗ huỵênh và khu vườn dày tán cây che chở. Chỗ nào còn hở là mạ tôi đi chặt lá đùng đình về che. Đêm đêm mạ tôi lại thao thức cùng các chú Chớ, Tăng, chị Lệ, chị Hoa... đuổi chuột bảo vệ hàng. Các đoàn quân vào Nam, ra Bắc đều ghé vào nhà tôi nhận hàng. Một nhà thơ đã gọi quê tôi là " Làng mặt trận" và viết:

          " Cửa ngõ vào mặt trận

            Là một làng hậu phương

            Những chuyện vui quê hương

            Những nét buồn thoáng gặp

            Người đi đánh giặc

            Chuyện bao giờ cũng sôi...

 

            Nhà dọc, nhà ngang, võng ngược, võng xuôi

            Quân đến, quân đi hệt như con cái

          ...Chú đêm qua mới tới

          Chú đêm trước đi rồi

          Lũ trẻ từng quen chẳng hề bỡ ngỡ

          Chỉ bà con hiểu rõ

          Dòng thác lớn Trường Sơn

          Sắp ập lên đầu giặc.

 

          Làng bốn bề đạn bom xáo nát

          Đêm vẫn rì rầm những chuyến đi xa

          Nơi bắt đầu của những bài ca..."

                             ( "Làng mặt trận" của Văn Lợi )

Và, cũng tại mảnh đất Cự Nẫm anh hùng này đã vang lên câu nói nổi tiếng của anh hùng Lê Mã Lương: " Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù". Để rồi sau đó, lớp lớp tuổi trẻ cứ noi gương, dũng mãnh lao vào đánh quân thù trên mọi trận tuyến, làm cho cuộc đời càng đẹp hơn.

Quê tôi quá thật khiêm nhường, quá bình dị, mà như có điều gì đó khác lạ. Khi cả 28 xã trong toàn huyện đều đệm cái chữ " Trạch" của Bố Trạch, như Trung Trạch, Đại Trạch, Thượng Trạch, Hạ Trạch, Tân Trạch...thì chỉ một mình mang tên xã Cự Nẫm. Khi có giặc lại trở thành nơi chiến sự ác liệt nhất gắn với bao chiến công vang dội khắp non sông. Khi phong trào " Sản xuất giỏi, chiến đấu cũng giỏi" theo lời Bác Hồ khen rộ lên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thì làng Cự Nẫm trở thành đơn vị đầu tiên được phong tặng danh hiệu " Đơn vị Anh hùng lao động" về nông nghiệp trong tỉnh. Đến như các xã bao quanh đều được hưởng chính sách miền núi, mà quê tôi lại là vùng đồng bằng!... Một vùng quê trong chiến tranh giữ nước thì kiên cường, anh dũng với ba lần được phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng và dày đặc di tích lịch sử, di tích văn hóa cấp quốc gia, nhưng khi cuộc sống bình yên lại hiền lành với bao điệp khúc lời ru của mẹ, của bà, của đất, của hoa, của rừng, của những dòng sông, của những con đường vấn vương dấu chân vẹt gót... như nhà thơ Trần Hải Sâm đã viết trong phần mở đầu trường ca " Âm vang Cự Nẫm":

          " Lời ru đậu mãi tuổi thơ

            Lời ru ngọn lửa đêm mơ ủ thầm

            Lời ru hạt giống trổ mầm

            Lời ru ngọn gió thì thầm ngọn cây

            Lời ru muối mặn gừng cay

            Men quê ai uống ai say một mình

            Lời ru đỏ thắm trái tim

            Từ trong hoạn nạn lại tìm thấy nhau

            Lời ru dịu bớt nỗi đau

            Dây trầu vấn vít thân cau thuở nào..."

Cái " Dây trầu vấn vít thân cau" như Trần Hải Sâm với người bạn đời của mình, rồi đậu lại ở mảnh đất lành này chỉ mới hơn một phần ba thế kỷ, mà đã bốc lên trong tâm hồn và trí tuệ của anh ta một bản trường ca dài ngoẵng hơn 1700 câu, với bao nỗi niềm sâu lắng, với bao hiểu biết về Cự Nẫm, hơn cả nhiều người gốc làng Cự Nẫm. Cũng mới chỉ là phần " Lời ru" mà anh ta cứ viết hoài về quê tôi:

          " Ngủ đi con, ngủ ngon nào

            Câu thương thì ở, câu chào thì xa

            Ngủ ngoan cho mẹ thay cha

            Ra vườn chọn đốt tre già vót chông

            Lời ru con sáo sang sông

            Lời ru dìu dặt cho bông lúa vàng

            Để mẹ xay, giã, giần, sàng

            Gạo thơm góp với xóm làng nuôi quân...

 

            Lời ru ngọn lửa tràn đêm

            Sân đình trai gái luyện bền kiếm, dao

            Ngăn sông, đắp lũy, đào hào

            Chốt canh nghiêm ngặt, người vào, người ra

            Đèn khêu tỏa rạng muôn nhà

            Xóm thôn như hội đăng hoa lửa hồng

            Lời ru niềm nỗi non sông

            Lời ru gọi giống Tiên Rồng đứng lên"

Để rồi, " Cuộc chiến đi qua - Người còn - Người mất - Xin ghi tạc những công ơn - Các anh hùng, nghĩa liệt - Cuộc đời hóa giọt nước mắt long lanh - Chút phù sa níu rễ - Cả rừng xanh - Chở che - Người đang sống"("Âm vang Cự Nẫm" - Trường ca của Trần Hải Sâm).        

Làng dọc Tỉnh Lộ 2 đều là " Nơi bắt đầu của những bài ca". Sử sách huyện nhà tôi còn chép lại rằng: Qua nhiều lần nghiên cứu đường bay của địch, dân quân xã Vạn Trạch đã cơ động tổ chức phục kích và chỉ trong một tuần từ 21 đến 27 tháng 10 năm 1966 đã bắn rơi 2 "thần sấm" của giặc Mỹ  (máy bay F105). Ngày 17 tháng 9 năm 1972, máy bay giặc Mỹ tập trung đánh phá ở ngã ba Hoàn Lão và Cầu Hiểm. Trung đội dân quân gái trực chiến 12 ly7 của xã Trung Trạch, do trung đội trưởng Châu Thị Liễu chỉ huy đã nổ súng bắn rơi một " Con ma" ( máy bay F4H) của giặc Mỹ... Những chiến công, như là những kỳ tích hào hùng trong lịch sử  dọc Tỉnh lộ 2 cứ lưu truyền mãi và mãi mãi vang xa, tạo nên sức mạnh và ý chí của con người luôn luôn vươn lên hướng thiện.

Hơn một thế kỷ trôi qua. Cũng bằng thời gian dài dằng dặc đầy biến động trong lịch sử ấy, Tỉnh lộ 2 vẫn thuỷ chung với đất nước và con người, làm tròn trọng trách của mình. Cũng hơn bốn triệu ngày đêm đầy nắng, đầy mưa với hàng trăm cơn bão và trận lụt chưa từng có chà đi xát lại, đầy nóng và lạnh, đầy bom đạn và giặc lửa, đầy sự hy sinh và máu của bao thế hệ con người ở khắp mọi miền đất nước dồn về đây phục vụ cứu nước và đi cứu nước, Tỉnh lộ 2 luôn đem hết sức, oằn mình nâng đỡ hàng triệu triệu đoàn xe, đoàn người ra trận đánh giặc và đi xây dựng quê hương đất nước. Con đường đầy chiến công, cũng là nơi bắt đầu của nhiều tuyến đường chiến lược như Đường Hồ Chí Minh, Đường 20 - Quyết Thắng, Đường Ba Trại, Đường 15... Đường đưa ta lên vùng núi Ba Rền ngày xưa heo hút, vắng bóng người qua, giờ đã có phố núi - Thị trấn Việt Trung sầm uất, bên cạnh Công ty cao su Việt Trung anh hùng hàng ngày đang làm giàu thêm cho quê hương, đất nước. Đường đất đá xuyên qua những Kẻ Ngói, Kẻ Hạc, Kẻ Đòi, Kẻ Rấy, Kẻ Nầm, Khương Hà, Sơn Trạch...những "kẻ" một thời quanh năm làm thuê cuốc mướn... trong công cuộc đổi mới đất nước đã trở thành đường bê tông nhựa, toả ra nhiều đường nhựa, đường bê tông xi măng liên thôn, liên xã qua những xóm thôn hầu hết nhà xây mái ngói, nhà hai ba tầng; xã nào cũng có Trường học hai tầng, bệnh xá hai tầng, trụ sở Uỷ ban xã hai tầng... đêm đêm đèn điện sáng trưng như ban ngày, đâu đâu cũng có ty vi, điện thoại, ngày đêm xe ô tô và xe máy chạy nườm nượp... Quê hương và con người trên tuyến đường Tỉnh lộ 2 đang đổi mới từng ngày.

Điểm cuối của Tỉnh lộ 2 là nơi bắt đầu của tuyến Đường 20 - Quyết thắng, là điểm khởi đầu của tuyến đường Hồ Chí minh, là nơi di sản thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng. Thông qua kết quả nghiên cứu và thẩm định của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), giá trị toàn cầu nổi bật của Phong Nha - Kẻ Bàng đã được Uỷ ban di sản Thế giới của UNESCO khẳng định : "Đây là một trong những mẫu hình nổi bật thể hiện các thời kỳ phát triển của lịch sử trái đất, chứa đựng những dữ liệu về sự sống, các tiến trình phát triển tầng địa chất có ý nghĩa đang diễn ra trong quá trình hình thành các dạng đất đai mang tính đặc sinh địa". Cùng với khối núi đá vôi phát triển liên tục, thành phần tương đối đồng nhất, Phong Nha - Kẻ Bàng được đánh giá là vùng Karst rộng nhất thế giới với diện tích trên 200.000 ha. Khu Phong Nha - Kẻ Bàng có một quần thể hang động phong phú, kỳ vĩ; là thiên đường của bộ môn hang động, du lịch hang động học và du hang động. Đến nay đã có trên 20 hang động với tổng chiều dài trên 70 Km đã được Đoàn khảo sát Hoàng gia Anh, phối hợp với khoa địa lý Đại học Quốc gia Hà Nội khảo sát có hệ thống, kỹ lưỡng và được công bố trên Tạp chí Hang động Thế giới. Hệ thống hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng được đánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất thế giới với các đặc trưng: có sông ngầm dài nhất, các hang có chiều cao và rộng nhất, các bãi cát trong hang dài nhất và có thạch nhũ đẹp nhất. Trong tất cả các hang động thì Phong Nha thật sự nổi bật với chiều dài mới khảo sát được là 8 Km, chủ yếu với sông ngầm dài nhất thế giới, là một kỳ tích của thiên nhiên sánh ngang với Động Pa - ti - ắc của Pháp và Động Cu-e-va-đen-trắc ở Tây Ban Nha. Để có được một Phong Nha - Kẻ Bàng đặc sắc, độc đáo, một kỳ quan của nhân loại, trở thành niềm tự hào của nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Bình nói riêng, thiên nhiên đã ưu ái, dày công thành tạo, biến đổi và tu chỉnh qua gần 400 triệu năm. Đó là sự hội tụ, sự kết hợp hài hoà của nhiều yếu tố của quá trình địa chất, địa mạo, dường như được sắp đặt theo một quy luật nhất định, không thể khác. Vị thế của Phong Nha - Kẻ Bàng không chỉ hấp dẫn với cảnh trí tuyệt vời của thiên nhiên muôn màu muôn sắc, một hệ thống núi đá vôi dựng đứng, sắc sảo, hùng vĩ như những bức tường thành vĩ đại, mà còn để lịch sử phát triển địa chất - địa hình cho chúng ta ngày nay chiêm ngưỡng. Phong Nha - Kẻ Bàng chứa một quần thể hang động đầy hấp dẫn và quyến rũ, mà ở đây còn tồn tại một khu rừng nguyên sinh nhiệt đới rộng hơn 85.754 ha. Rừng Phong Nha - Kẻ Bàng có mức độ đa dạng sinh học cao nhất trong số các vườn Quốc gia và khu bảo tồn ở Việt Nam. Nằm ở phía Đông Bắc dãi Trường Sơn hùng vĩ, rừng Phong Nha - Kẻ Bàng trập trùng, ngút ngàn với hơn 94% là rừng nguyên sinh và độ che phủ trên 95%, đến ánh sáng mặt trời cũng khó xuyên qua. Theo số liệu điều tra bước đầu, trong vườn Phong Nha - Kẻ Bàng đã thống kê được 140 họ, 427 chi, 1200 loài thực vật, trong đó có 36 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng và được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Ngoài tài nguyên thực vật đa dạng, Phong Nha - Kẻ Bàng còn có 32 bộ, 98 họ, 256 giống, 381 loài của 4 lớp động vật có xương sống ở trên cạn. Trong đó có 66 loài quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam, 23 loài được xếp vào danh sách bảo vệ toàn cầu. Phong Nha - Kẻ Bàng còn có hàng chục đỉnh núi cao trên 1000 mét, hiểm trở, chưa từng có vết chân người, là các điểm hấp dẫn thể thao leo núi và thám hiểm như: Đỉnh CoRilata cao 1128 mét, CoPreu cao 1213 mét...Đặc biệt có đỉnh Mã Tác chỉ cao 721 mét nhưng có một mặt bằng rộng 70ha... Từ năm 1899, khi tìm hiểu những bi ký trên vách động Phong Nha, linh mục Cadiere đã viết:" Những gì còn lại đó đều quí báu đối với sử học. Giữ gìn nó là giúp ích không ít cho khoa học". Trong lời giới thiệu cho tập "Bản đồ du lịch  Di sản thiên nhiên thế giới vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng", ông Phan Lâm Phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Quảng Bình đã viết: " Giá trị của Phong Nha - Kẻ Bàng được khẳng định. Phong Nha - Kẻ Bàng đã trở thành " Di sản thiên nhiên thế giới" cũng đã và đang đặt ra cho Chính phủ Việt Nam, trực tiếp là Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình chúng tôi niềm vinh dự to lớn và những trách nhiệm nặng nề hơn trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ khu di sản độc đáo và rộng lớn này...bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững, coi trọng việc khai thác các loại hình du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và du lịch văn hoá..."

Con đường Tỉnh lộ 2 đã gánh thêm một trọng trách vinh quang, là hàng năm nâng bước và bảo vệ an toàn cho hàng vạn đoàn xe và hàng triệu lượt du khách khắp nơi trên thế giới, đến chiêm ngưỡng và hưởng thụ những gì đẹp nhất ở Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng.

                                                                

                                                               Nha Trang, tháng 12-2007 

 

 

 

 

 

 

LỆ NINH XANH

 

                                     

 

          Trời lại đổ mưa. Mưa xối xả như đổ đá lộp độp trên trần xe. Cái gạt nước đã quay hết tốc lực, nhưng không thể xua được nước chảy trên kính. Lái xe Nam căng mắt hết cỡ nhìn đường để điều khiển xe, nhưng cũng phải chạy từ từ với tốc độ tối thiểu. Phó chủ tịch Công đoàn chuyên trách của Công ty Hoàng Thị Thu Tịnh thở dài, rồi buông ra một câu:

- Công ty lại thiệt hại nghiêm trọng rồi!...

- Sao vậy chị? – Tôi hỏi.

- Các anh tính, cứ mỗi ngày mưa là Công ty mất đứt 500 triệu đồng.

- Sao dữ vậy? – Tôi lại hỏi.

- Mỗi ngày mưa, chỉ tính riêng không khai thác được mủ cao su là đã mất 500 triệu, đó là chưa kể những khó khăn lớn của các hoạt động sản xuất kinh doanh khác và lãng phí hàng trăm công. Trận lũ lịch sử đầu tháng 10 năm 2010 cách đây 3 ngày, Công ty không chỉ chịu thiệt hại do mưa to gió lớn liên tục cả tuần, do lũ lớn tàn phá, mà còn bị một cơn lốc xoáy gãy nát 25 ha cây cao su đang trong thời kỳ khai thác. Bây giờ lại mưa dữ dội thế này và nghe đâu ngoài biển lại xuất hiện siêu bão Mêgi. Mưa lạnh thế này mà em nóng ruột quá!...

Chị cúi xuống nhìn dòng suối nước sắp tràn qua chiếc cầu bê tông xe chúng tôi đang qua. Nước cuồn cuộn chảy với nhiều đụn xoáy tít, như đang xoáy trong lòng chị. Ngược với gương mặt vui tươi, liếm thoắng trước đó mấy chục phút, nét mặt của chị đượm buồn. Chúng tôi hiểu nỗi lòng của chị - nỗi lòng của một người lãnh đạo đang được Công ty giao trách nhiệm chăm lo quyền lợi và đời sống cho 845 đoàn viên của Công đoàn cơ sở và 17 Công đoàn bộ phận. Tất cả đều lo. Nỗi lo cứ luôn xoáy mạnh trong người của từng đồng chí lãnh đạo Công ty suốt 50 năm qua. Tốc độ của cái guồng xoáy ấy  làm cho các anh, các chị, từ Giám đốc đến người công nhân điên đảo khi gặp khó khăn về sản xuất, kinh doanh, khi thời tiết khắc nghiệt và bất lợi. Đến như Giám đốc Hoàng Viết Ái đã hơn  một phần ba thế kỷ cống hiến cho Công ty, nay tuổi đời đã cao, lại bị bệnh hiểm nghèo, đã tin tưởng giao việc cho Phó giám đốc, để có thời gian nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, nhưng suốt cả đợt lũ lụt vừa rồi, anh vẫn luôn đội mưa, rẽ gió đến cơ quan. Công ty đối với anh là máu thịt, là bao kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời.

Theo “Đại Nam nhất thống chí” tập 2, của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi lại thì vùng đất này nằm trên dãy núi Mã Yên ( Yên ngựa ),  "thế núi nhọn mà cao; quanh co uyển chuyển, chỗ đứt, chỗ liền, chỗ cao, chỗ thấp, trông như hình yên ngựa, nên gọi thế, về tả hữu, thế núi kéo đi, có chỗ như ngựa đi chậm, có chỗ như ngựa đi nhanh, tinh thần gấp trăm, là núi rất cao ở giữa nghìn muôn núi. “Ô châu cận lục” nói: “ Núi Mã yên cao nhọn, thẳng sát tầng mây, là nói núi này cao lắm”. Còn nói về các loại thú trong rừng của vùng đất Ô châu này, tiến sĩ Dương Văn An đã viết trong “Ô Châu cận lục” rằng: “ Bên non gầm gió, oai dậy muôn khe (1) đầu núi lẩn sương, sắc hoà ngàn lớp (2). Gấu khoẻ mạnh và trèo cao, hươu cảnh giác mà ngóng trước. Lúc quỳ, lúc đứng, voi khôn cũng như người, sừng chữa thương hàn, tê phục hồi dương khí... Hổ khôn ngoan biết phân chẵn lẻ, sói mưu trí đoán được thực hư...”.Núi nối liền núi, địa hình hiểm trở, rừng sâu nước độc và lắm thú dữ như thế, mà cách đây nửa thế kỷ đã có  những người lính bộ đội Cụ Hồ, những người con của miền Nam ra tập kết đã đến khai phá rừng hoang, lập nghiệp. Nói một cách chính xác hơn là vào năm 1957, có một người con của tỉnh Quảng Nam, từng là Chủ tịch huyện Quế Sơn, tập kết ra Bắc, được bố trí làm cán bộ Viện Huân chương Chính phủ, nhưng không thích ngồi bàn giấy, đã xung phong và được Ban thống nhất Trung ương cử vào Quảng Bình khảo sát để đưa anh em từ các trại điều dưỡng, trại thương binh đến xây dựng cơ sở sản xuất. Anh tên là Phan Đình Lang. Cùng được cử đi với anh là Lê Văn Tha, Trần Động và Nguyễn Thự. Các anh đã đến và chọn mảnh đất này, rồi đưa anh em ở các trại thương binh và trại điều dưỡng vào, với hành trang của mỗi người trên vai một ba lô và 6 tháng lương là 150 đồng. Mỗi người một tháng chỉ sống với 25 đồng mỗi tháng, giữa núi rừng heo hút, xa xôi, nhưng ai cũng hăng hái ra đi, bởi theo họ càng đi vào càng được gần với miền Nam hơn, khoảng cách giữa họ và quê hương càng được rút ngắn lại. Dù bước đầu có hơi ớn lạnh với cảnh rừng thiêng, nước độc và bao thiếu thốn, khổ cực bao quanh, nhưng bản chất tốt đẹp và truyền thống cách mạng của anh bộ đội Cụ Hồ vẫn luôn trỗi dậy trong họ. Họ căng ni long, che lán trại để ở tạm và bắt tay vào khai hoang vỡ đất. Dần dần các tập đoàn Trị Thiên, Thừa Thiên, Bình Minh, Sao Mai, Tiền Phong... của những người con của các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên...ra đời. 36 tập đoàn, gồm 640 tập đoàn viên với " Bàn tay ta làm nên tất cả - Có sức người sỏi đá cũng thành cơm", đã bất chấp mọi

                            

(1): Chỉ con hổ

(2): Chỉ con báo

gian khổ, khó khăn và thử thách, ngày đêm hăng say sản xuất, chặt đốt lau lách, quét sạch rừng hoang, tạo nên những cánh đồng lúa, ngô, khoai, sắn bội thu, có thêm đồng tiền và lương thực, thực phẩm nối tiếp sau khi chi tiêu hết 6 tháng lương đã được cấp. Vùng núi Mã Yên ngày càng được khám phá, đưa lại nhiều nguồn lợi cho con người. Thấy có nhiều tiềm năng và triển vọng, ngày 15 tháng 2 năm 1958, Ban thống nhất Trung ương đã ra quyết định thành lập bộ khung Liên đoàn sản xuất miền Nam tại Lệ Ninh, do đồng chí Phan Đình Lang phụ trách. Và rồi, ngày 24 tháng 12 năm 1960 cả 36 tập đoàn đã đoàn kết, nhất trí hợp nhất lại với nhau thành lập Nông trường Lệ Ninh, tổ chức sản xuất cao su, hồ tiêu, cây ngắn ngày và chăn nuôi đại gia súc, gia cầm.

Nông trường từng bước được thay da đổi thịt. Cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như cơ sở hạ tầng được xây dựng, đáp ứng kế hoạch sản xuất, sinh hoạt đời sống vật chất và tinh thần cho toàn nông trường. Vùng núi xa xôi, heo hút, vắng bóng người qua lại, bỗng hoá tâm hồn, trở thành đất lành, thu hút trên 1.000 thanh niên nam - nữ con em huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và cả Nghệ An, Hà Tĩnh, tấp nập kéo về đây, mang sức của đôi tay, lao động không quản ngại khó khăn, gian khổ tiến hành mở đất, trồng gần 1.300 ha cây cao su. Trên diện tích các lô cao su, họ còn trồng xen lúa, ngô, khoai, sắn, lạc...Họ nuôi bò đàn, lợn trại, nuôi gà, vịt... Đất mới lạ, lại được con người thường xuyên chăm bón, nên cây gì cũng tươi tốt, củ to, quả trỉu, sây bông, vật nuôi con gì cũng béo khoẻ. Quả là: " Trời dung nạp, đất dưỡng nuôi, đúng là một thời vận trường thịnh của trời đất. Vận trời trở lại, khí đất đúc thiêng, nên ở phong thổ xứ ta, cái trước chưa tàn hết thì nay bắt đầu vẻ vang thịnh vượng, cái trước chưa phát triển hết thì nay bắt đầu nảy nở sinh sôi... Khi vận trời đến thì dẫu là nơi gò đồng cũng trở thành thành trì vững chắc, đống gạch ngói cũng mọc ra lầu son gác tía, nơi để vạt áo bên trái (1) cũng hoá chốn mũ giày áo xiêm(2)..." (3).

          Cả vùng Nông trường và cuộc sống của mỗi con người sống và lao động trên vùng đất hứa này ngày càng khởi sắc, như một bức tranh đẹp muôn màu muôn vẻ, in hình trên sông Cẩm Lý trong xanh và thơ mộng.

          Bí thư Đảng uỷ Nguyễn Thanh Bình, quê ở huyện Triệu Phong

( Quảng Trị), nhưng được xem là chính gốc của mảnh đất này. Cha mẹ anh đều là những công nhân đầu tiên của nông trường, đã sinh anh ra trên mảnh đất này, đã chắt chiu từng giọt sữa từ những sản vật của mảnh đất này nuôi anh khôn lớn, thành người. Cùng với sự trưởng thành của mình trong từng

                                                                            

(1): Ý nói lạc hậu, mọi rợ

(2): Ý nói có văn hoá

(3): Ô châu cận lục - Dương Văn An

thời gian, anh chứng kiến tường tận những chặng đường phát triển của Nông trường Lệ Ninh trước đây và Công ty TNHH một thành viên Lệ Ninh ( gọi tắt là Công ty Lệ Ninh) bây giờ. Trong lòng anh luôn tràn ngập niềm tự hào về Công ty.

          - Kiên cường lắm mới trụ vững và phát đạt như hôm nay anh ạ! - Bí thư Đảng uỷ Nguyễn Thanh Bình nói.

          Đó là điều mà không ai có thể phủ nhận. Cả dân tộc Việt Nam, cả tỉnh Quảng Bình, trong đó có Công ty Lệ Ninh lúc nào cũng kiên cường, tràn đầy hào khí, lúc nào cũng vang mãi bản hùng ca hào hùng. Hơn nửa thế kỷ qua, cán bộ, công nhân viên Công ty này đã trải qua bao khó khăn thử thách cực độ và đã vượt qua xuất sắc cực kỳ. Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ trước, trong thời kỳ " đỉnh cao muôn trượng " ấy, Nông trường Lệ Ninh đang phát triển mạnh mẽ, thì giặc Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc. Chúng đã đánh phá vùng đất Nông trường này 7.099 trận, trong đó có 339 lần máy bay B52 rải thảm, với hơn 32.500 tấn bom đạn các loại. Mỗi thành viên sống trong Nông trường phải hứng chịu hơn 30 tấn đạn bom. Không có ngày nào vắng tiếng gầm rú của máy bay. Không có ngày nào không có không bị đạn bom giặc Mỹ tàn sát. 199 người, trong đó có 17 cụ già và 62 trẻ em bị chúng giết hại, 283 người bị thương, 17 đơn vị sản xuất bị san bằng; 13 vạn cây cao su, 2 vạn cây vành đai rừng và 1000 gốc hồ tiêu bị thiêu huỷ; 800 con bò, 1800 con lợn và 80 vạn con cá... bị trúng bom đạn. Mất mát quá lớn, đau thương vô hạn, nhưng cán bộ công nhân viên Nông trường vẫn kiên cường bám trụ, với tinh thần:

 

                             " Nhà tan cửa nát cũng ừ

                             Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ, sướng sau"

          Vừa động viên, tiễn đưa hàng trăm thanh niên khoẻ mạnh ra tiền tuyến, làm tròn các nghĩa vụ của Nhà nước, những người ở lại trên Nông trường này vừa dũng cảm chiến đấu bắn rơi 3 máy bay Mỹ, đồng thời sản xuất kinh doanh giỏi, luôn là điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua. Mỗi cán bộ, công nhân viên ở Nông trường này ai cũng muốn làm việc bằng hai, bằng ba, làm ra thật nhiều sản phẩm chi viện cho chiến trường đánh thắng Mỹ - nguỵ. Họ nguyện làm tất cả những gì có thể làm được, làm hết mình, tất cả vì miền Nam ruột thịt, để miền Nam sớm được giải phóng, đất nước mau được thống nhất và họ sớm được vào thăm quê, thăm bà con, người thân. Rồi cái giây phút khao khát đợi chờ suốt 21 năm ròng ấy đến. Đại thắng mùa xuân 1975 của quân và dân ta đã " Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", giải phong hoàn toàn miền Nam thân yêu. Đất nước thống nhất. Trong niềm vui không có gì bằng ấy, thể theo nguyện vọng của cán bộ, công nhân viên, lại được sự nhất trí cấp trên, Nông trường Lệ Ninh đã tiễn đưa hàng trăm người - hầu hết là con em miền Nam, có phẩm chất tốt, có trình độ và năng lực vào Nam, thành lập 16 bộ khung chủ chốt của các nông trường. Những con người quí giá trong 16 bộ khung ấy, đã đem hết tâm huyết của mình xây dựng 16 nông trường phát triển mạnh mẽ. Trong số những con người ưu tú ấy, nhiều người đã trưởng thành, giữ các chức vụ chủ chốt như: Lê Mậu Lộ, từ giám đốc Nông trường Tân Lâm lên Giám đốc Sở nông nghiệp Bình Trị Thiên; Phan Đăng Danh, Giám đốc Nông trường Dương Minh Châu; Trần Ngọc Hữu, Giám đốc Công ty hồ tiêu Tân Lâm; Phạm Văn Đoàn, Bí thư Đảng uỷ Công ty hồ tiêu Tân Lâm; Bùi Minh Tương, Giám đốc Nông trường Thanh Bình; Đoàn Minh Quê, Giám đốc Nông trường Đoàn Kết; Trần Văn Hảo, Giám đốc Nông trường Khe Sanh; Trương Văn Đề, Giám đốc Liên hiệp xí nghiệp cà phê Việt Đức; Phạm Bá Huấn, Giám đốc Công ty vật tư nông nghiệp Thừa Thiên - Huế; Nguyễn Hữu Luyến, Giám đốc Công ty vật liệu - xi măng Long Thọ... Họ đã làm rạng rỡ vùng quê mới, rạng rỡ cả Nông trương Lệ Ninh - nơi đã đào tạo, nuôi dưỡng mình . Người Quảng Bình và Lệ Ninh cũng phấn chấn, tự hào.

          - Vui nhiều, nhưng khó khăn, vất vã cũng không ít!...- Phó Giám đốc Nguyễn Ngọc Sơn nói với chúng tôi: - Chiến tranh kết thúc, đất nước hoà bình rồi, nhưng hậu quả chiến tranh để lại cho Nông trường này quá nặng nề. Lãnh đạo Nông trường cho rằng đây là thời kỳ cam go nhất - Vừa nói, Phó Giám đốc Ngọc Sơn đưa cho tôi một cuốn tập san, trong đó có bài viết của Giám đốc Hoàng Viết Ái và nói: - Anh cứ đọc thì biết...

          Tôi lần mở ra xem. Giám đốc Hoàng Viết Ái viết rằng: " Trên 1500 lao động được Nông trường bao cấp. Mọi thứ Nông trường đều lo. Người lao động nghe kẻng thì đi làm, nghe lệnh thì về nghỉ, nếu không nói là theo kiểu " cơm vua, ngày trời". Thiếu xăng dầu kêu Nông trường, máy kéo hỏng kêu nông trường, phân bón và thuốc trừ sâu thiếu kêu Nông trường, dao cạo mủ cùn và bát mủ vở... kêu Nông trường. Sản phẩm làm ra theo kế hoạch vạch sẵn. Năm này không đạt kế hoạch, năm sau xin cấp trên điều chỉnh thấp xuống... Để rồi lương tháng được năm, bảy chục ngàn, thậm chí vài ba chục ngàn mà vài ba tháng mới thanh toán được. Số nợ Nông trường lên hàng nửa tỷ đồng. Nông trường đang đứng bên bờ vực thẳm!. Câu hỏi đặt ra: tồn tại hay chết!...".

          - Tình hình ấy và cả Nông trường quằn quại kéo dài hơn mười năm - Phó Giám đốc Ngọc Sơn nói tiếp: - May thay, Đảng ta mở ra đường lối đổi mới. Cơ chế quan liêu, bao cấp bị xoá bỏ, lãnh đạo Nông trường đã tập trung suy nghĩ, đổi mới cơ chế quản lý, xác định lại hướng sản xuất, tổ chức sắp xếp lại đội ngũ lao động, đổi mới công tác kế hoạch và công tác hạch toán kinh tế...làm cho hiệu quả sản xuất và kinh doanh của Nông trường ngày càng được nâng cao. Theo số liệu để lại thì so với những năm 1986 trở về trước, năm 1999 giá trị tổng sản lượng tăng hơn 12 lần, giao nộp ngân sách tăng gần 37 lần, lương của cán bộ công nhân viên tăng gần 10 lần... Điều đáng mừng là Nông trường đã thoát khỏi " con nợ". Đời sống công nhân từng bước được cải thiện, nhất là từ khi có chủ trương phát triển kinh tế trang trại, các hộ sản xuất kinh doanh đều có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước...

          Theo Phó Giám đốc Ngọc Sơn cho biết thì từ đầu năm 1998, Nông trường được Uỷ ban nhân dân tỉnh ra Quyết định đổi thành Công ty cao su Lệ Ninh. Từ đó đến nay, thêm hai lần được đổi tên. Đó là phần truyền thống, còn đối với họ, dù là Công ty cao su Lệ Ninh, Công ty Lệ Ninh, rồi Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lệ Ninh, hoặc sẽ thêm những cái tên gì gì đi nữa, thì vẫn đang nằm trong guồng sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, vẫn tích cực đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, đổi mới cách quản lý và chuyển đổi giống cây- con có năng suất cao nhất, để giành nhiều kết quả tốt nhất và cao nhất. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Công ty Lệ Ninh lần thứ 25 mới đây đã khẳng định: " Chính vì vậy mà kinh tế của công ty đã có bước phát triển đột phá về lượng và chất, đạt được những kết quả thành tích quan trọng.". Nếu như cách đây 5 năm, Đại hội lần thứ 24 đề ra chỉ tiêu phấn đấu về tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP là 18-20%, thì trong 5 năm qua ( 2005 - 2010) đạt gần 33%, tăng gấp 2 lần so với 5 năm trước (2000 - 2005). Cũng so với thời kỳ 2000 - 2005, giá trị tổng sản lượng đạt gần 441 tỷ đồng tăng trên 386% và vượt chỉ tiêu 205%, doanh thu đạt gần 195 tỷ đồng tăng 234,4% và lợi nhuận đạt trên 21 tỷ đồng tăng 251,3%... Những con số là những kỳ tích trong bao khó khăn gian khổ, trong bao sự khắc nghiệt của thời tiết, mang cả trí tuệ, cả tính nhân văn, cả sức lực, cả máu, mồ hôi và nước mắt của cán bộ công nhân viên Công ty Lệ Ninh.

          Tạm biệt Phó giám đốc Ngọc Sơn, chúng tôi tiếp tục theo Phó chủ tịch Công đoàn Hoàng Thị Thu Tịnh đến xí nghiệp chăn nuôi. Trời đang mưa như trút nước. Vẻ mặt của chị vẫn chưa hết nỗi buồn. Mưa như đang xói vào lòng chị. Bao sự lo lắng đang vây quanh chị. Chị là " con nhà nòi" của Công ty. Tài xế Nam đang đưa chúng tôi đi là anh trai của chị. Cha của chị - Ông Hoàng Đức Đáo có 11 năm là Giám đốc Công ty - là người đang để lại cho các thế hệ cán bộ công nhân viên trong Công ty hết lòng khâm phục. Nhiều người nói rằng: " Tính của cô Tịnh không khác chi ông Đáo, việc của Công ty mà khi mô cũng coi như là việc của nhà mình vậy".

          - Chăn nuôi mấy năm gần đây được Công ty xem như là một khâu đột phá.- Chị Tịnh nói: -  Công ty đang tập trung đưa chăn nuôi mang tính công nghiệp, trở thành ngành sản xuất kinh doanh chính và đã từng bước đưa lại hiệu quả. Đến bây giờ Công ty đã có dự án cho khu chăn nuôi là 10ha, trong đó có một nhà máy chế biến thức ăn có công suất 10.000 tấn/ năm, với quy mô 1.500 lợn nái ngoại và 28.000 con lợn thịt/năm. Chăn nuôi mà gặp phải mưa lũ thì khổ hết cỡ các anh ạ!...

          Giám đốc Xí nghiệp Trần Công Văn mang cả áo mưa đón chúng tôi.

          - Vất vả quá các anh hè! - Giám đốc Văn nói: - Anh chị em chúng tôi lại càng cực hơn. Các anh cứ nghĩ bình thường 30 người, hầu hết là phụ nữ, thường xuyên chăm lo cho 5.200 con lợn, trong đó có hơn 1500 lợn nái đã khổ lắm rồi, huống chi mưa lũ. Trận lụt lịch sử đầu tháng 10 vừa rồi có đến 14 nái đẻ, cả Công ty quên ăn, quên ngủ, tập trung chăm cả 14 lợn mẹ và 154 lợn con...

          Nghe Giám đốc Trần Công Văn nói, tôi bỗng giật mình nhớ lại cái thời Bình Trị Thiên, thời của những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, sống ở Huế đẹp, Huế mộng, Huế mơ, nhưng gia đình cán bộ công nhân viên nào cũng nuôi heo. Chuồng heo được làm ở trên tầng hai, tầng ba, heo ở sát bên người, mọi sức lực và trí tuệ đều tập trung cho heo, đi làm về là rửa chuồng heo, tắm cho heo và cho heo ăn trước cả con cái mình, tìm mọi cách để heo tăng trọng nhanh, bởi một con heo khi xuất chuồng được khoảng 70kg, là có quyền đến các xưởng mộc khiêng về một tủ gỏ hay một giường gỏ rộng hơn mét rưỡi về đặt trong nhà mê ly. Càng nhớ và nghĩ lại, càng hiểu hơn các anh các chị ở Công ty chăn nuôi này. Cũng có lẽ vì thế mà Công ty Lệ Ninh đã tập trung đầu tư cho khâu đột phá này. Đầu tư xây dựng chuồng trại quy mô, đầu tư chọn nuôi giống tốt, lại còn xây dựng cả một nhà máy chế biến thức ăn cho gia súc 3000 tấn / năm. Để rồi, bình quân mỗi năm, Xí nghiệp này xuất bán trên 500 tấn thịt lợn, mang về nguồn thu lớn cho toàn Công ty Lệ Ninh...

          Cứ như vậy, tài xế Nam cố căng mắt, gạt nước, rẽ mưa, rẽ gió, điều khiển xe đưa đoàn văn nghệ sĩ Quảng Bình " vi hành" tận Xí nghiệp nông sản - nơi chế biến và mỗi năm xuất bán trên 1.700 tấn cao su thành phẩm; đến với người giám đốc lúc nào cũng vui vẻ ở Nông trường I - nơi đang quản lý và sản xuất trên 700 ha cao su; đến với Giám đốc Hoàng Văn Hoè của Nông trường II để được xem cả vùng chuyên canh tổng hợp, với đủ loại cây trồng cao su, lúa, ngô, khoai sắn, lạc, có cả bò, hồ cá...

          Những nơi chúng tôi đến ngày xưa đất cằn, sỏi đá, đạn bom giặc Mỹ băm nát, cháy cháy lân tinh và chất độc thiêu trụi; bây giờ xanh một màu xanh bạt ngàn đầy sức sống trong lành, đầy hy vọng của cây công nghiệp, cây lương thực và thực phẩm, bao bọc hồ nước Cẩm Ly và dòng sông Cẩm Lý xanh trong, tạo nên thành luỹ phía Tây trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Quả là một vùng trời đất giàu đẹp và trọng yếu, vùng đất đã sản sinh ra không ít nhân tài do khí đất chung đúc nên, khí đất lại nhờ nhân tài mà phát xuất. Tất cả đều hoà quyện, tạo nên một Công ty Lệ Ninh ngày càng vững mạnh, ngày càng phát xuất.

                                                                             Tháng 11 năm 2010

 

 

 

 

 

 

KIM CƯƠNG

                                 TRUYỆN - KÝ

 

                                      Chịu trách nhiệm xuất bản:

                                        TS. NGUYỄN DUY TỜ

 

                                        Biên tập:

                                                  LƯƠNG HÀ

 

                                      Bìa và trình bày:

                                         DƯƠNG NGỌC LIÊN

                                                 HỒNG KIM

 

                                      Sửa bản in:

                                                            LINH GIANG

                                                          THANH HƯƠNG

 

 

 

 

( Bài Tết)

 

Chuyện của 40 năm trước

 

                                                                                  Kim Cương

 

          Những người trong cuộc. Những con người từng sống, lao động và chiến đấu trên mảnh đất Quảng Bình trong những năm “ Bình Trị Thiên khói lửa” thời chống Pháp và trong những năm đụng đầu lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mới hiểu hết lòng mình đối với Trị - Thiên. Đúng là “ Muôn người như một gửi về Trị Thiên…”. Cùng với tinh thần “ Nhà tan cửa nát cũng ừ - Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau”, kiên cường đánh Mỹ trên đất quê mình, trở thành quê hương  “Hai giỏi” như Bác Hồ khen, thành đơn vị dẫn đầu trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giắc Mỹ, dù phải trải qua bao mất mát đau thương, dù đang sống trên mảnh đất được gọi là “ điểm hủy diệt đẻ cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam của đế quốc Mỹ, ngoài tấm lòng “ Tất cả vì miền Nam”, “ Tất cả đê đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. người Quảng Bình còn “ Tất cả vì Trị Thiên Huế ruột thịt”. Hạt gạo chia năm, hạt muối chia bảy, mong sao những thứ mà mình làm được, được san sẻ đến với đồng bào miền Nam, với Trị Thiên Huê, đến với bạn Lào, cùng hưởng, cùng tăng thêm sức mạnh, để “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” như Bác Hồ từng mong muốn, giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà.

Như lời hẹn ước “ Hẹn ngày chiến thắng, ta sẽ về trong một nhà”, sau Đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết 245, quyết định hợp nhất ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh thành tỉnh Bình Trị Thiên. Bao năm chia cắt, bao năm trông đợi, mong chờ, nay niềm vui đến bất ngờ, ai cũng hào hứng và náo nức lắm. Tất cả cứ trông chờ đến ngày xuất hành vào Huế, vào với cố đô, với sông Hương, núi Ngự, với kinh thành tráng lệ, với lăng tẩm uy nghiêm của bao đời vua chúa, với câu hò mái nhì mang mác, với làn điệu Nam Bình Nam ai da diết lòng người…mà lâu nay từng được nghe, được đọc.

Cái thời “ lòng phới phới dậy tương lai” cứ dậy lên và sự chờ đợi đã đến. Từ thị xã Đồng Hới “ tan rồi sau bao trận đánh”, chúng tôi mang tất cả tư trang, tất cả những tiện nghi làm việc vừa đưa từ dưới những nhà hầm lên và hồ sơ, và cơm muối lên xe tải, hành trình vào Huế, giữa mùa hè tháng 6 năm 1976 như đổ lửa. Đường qua bao sự tàn phá của chiến tranh hủy diệt không còn là đường nữa. Xe như bò qua những hố bom vừa được san lấp, qua những ổ voi, ổ gà lỡm chởm. Sau mấy ngày vận chuyển, các cơ quan trong tỉnh đã nhập lại với nhau. Từ Phòng công tác chính trị - Ty Công an Quảng Bình, tôi và anh em đồng đội dược vào làm việc ở nhà số 10 đường Hà Nội. Ở đó sát với nhà của Nhạc sĩ Trần Hoàn – Trưởng Ty văn hóa, sát với Cửa hàng Bách hóa, với quán Cao lầu mì có tiếng và Đài Truyền hình…

Nghe ra thì quá thuận tiện và dễ sống, nhưng có thể kết luận rằng: chưa bao giờ đời sống của đất nước lại khó khăn như trong khoảng 13 năm nhập tỉnh. Muốn mua được tiêu chuẩn lương thực và thực phẩm theo sổ và tem phiếu, phải đến xếp hàng trước cửa hàng từ lúc 2 giờ sáng, mà chỉ được 20% gạo, còn lại là hạt bo bo. Nấu một nồi gọi là cơm, nhưng “ chắt” mãi cũng chỉ mong được một bát cơm cho con nhỏ! Đất nước sau chiến tranh với bao hậu quả nặng nề, phải gặp khó khăn, ai cũng xác định được như vậy, và chấp nhận, và cố phải vượt qua. Hàng tuần, chúng tôi phải cắt cử nhau lên vùng rừng núi Bình Điền hay ra Hoàn Cát trồng sắn trồng khoai, để có khoai có sắn mà ăn. Vất vả lắm, gian khổ lắm, nhưng ai cũng muốn đi, bởi mỗi chuyến đi ít chi cũng kiếm về cho vợ con một bao sắn để mài ra làm bánh, để hấp độn, để làm bánh bột lọc, để nấu cháo…Hàng tháng chúng tôi lại kéo nhau lên vùng núi chặt hoa đót về nhập cho ngoại thương lấy tiền làm quỹ. Từng đơn vị lại còn về các làng xã xin đất trồng lúa để kiếm thêm hạt gạo. Ngoài viêc công, việc tăng gia sản xuất do tập thể tổ chức, về nhà ( phần lớn là nhà ở đợ - nhà thuê), mọi người còn tranh thủ thời gian bó chổi đót, bóc lạc cả đêm để kiếm thêm tiền, lại còn phải ra sông Hương lặn lội vơ rong về chăn nuôi lợn trong thời được gọi đùa là “ Người Việt gốc lợn”. Nuôi được lợn xuất chuồng là có giường gõ, có tủ gõ, có tiền để sắm theo ý muốn. Lợn một bên và người một bên. Chăm lợn hơn cả chăm người. Hàng chục hộ ở gác hai, gác ba, gác bốn ở khu tập thể Đống Đa cũng dành diện tích đế nuôi vài con lợn. Mỗi lần bạn bè đến chơi lại phải lau chùi chuồng lợn sạch sẽ…

Nói ra có vẻ “ kêu ca”, “ Ôn nghèo gợi khổ”, các cháu 9X về sau cho là chuyện cổ tích, nhiều người có cả những người gác cổng cơ quan ngôn luận có thể cho rằng “bôi bác chế độ”!...Nhưng, đó là chuyện cũ. Thực tế trong thời điểm lịch sử đó đã xãy ra như vậy. Đó cũng là bản lĩnh kiên cường và sự trỗi dậymạnh mẽ của con người, để chiến thắng mọi khó khăn và gian khổ, để vượt qua và vươn lên…Đó là một thành công tuyệt vời của con người trong thời điểm cam go đó. Người miền Trung, nhất là người “Bình Trị Thiên khói lửa”, “ nắng rát đôi chân. Nắng rát ca dao…giông bão lắt lay…Một đời sỏi đá cha đi chiến trận. Một đời sỏi đá đìu hiu mẹ trông…”, giữa vùng gió Lào cát trắng, quanh năm nghèo và cực khổ trăm bề ai cũng biết, nhưng cũng là vùng đất rang danh nổi tiếng khắp nơi. Vùng đất của Quảng Bình quê hương “ Hai giỏi” như Bác Hồ khen, của Vĩnh Linh “ Lũy thép kiên cường”, của Trị-Thiên “ Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”. Càng trải qua gian nan, vất vả, càng dẽo dai, vững vàng, mạnh mẽ, càng rạng ngời chiến công. Đó là điều cảm phục, là điều có thật không ai dám phủ phàng.

13 năm “ về trong một nhà” là 13 năm đầu vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh hủy diệt của giặc Mỹ. Trị-Thiên mới giải phóng. Hậu quả chiến tranh để lại quá nặng nề. Quảng Bình - Vĩnh Linh chằng chịt hố bom, nhà ở và các công trình công cộng bị đánh tan nát chưa kịp dựng lại. Thị xã Đồng Hới còn tan hoang, dân sơ tán chưa kịp trở về…Đời sống kinh tế quá khó khăn, sinh ra phức tạp về an ninh trật tự. Tội phạm hình sự xãy ra từng ngày. Một số người trong chế độ cũ chưa thấy được chế độ ưu việt cảu ta, chập chờn giữa tiếc nuối chế độ Mỹ- ngụy và hoang mang, tìm cách phục thù. Chỉ trong 13 năm hợp tỉnh mà đã có gần 20 vụ phản cách mạng. Ngay từ tháng đầu, lực lượng công an đã phải vào cuộc đánh án hốt trọn nhóm tuyên truyền phản cách mạng chống lại Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gồm 11 tên do Trần Tăng Thành, nguyên là thiếu úy ngụy cầm đầu. Chỉ trong tháng 5 năm 1977, Công an tỉnh đã phá tổ chức phản cách mạng mệnh dân là “ Lực lượng daab quân nổi dậy” hay còn gọi “ Toán 65” do tên Nguyễn Ngọc Thúy và Lê Tấn Mỹ cầm đầu đã tập hợp gần 100 tên và vụ ném chất nổ vào phòng họp của Phòng Tài chính huyện Hương Điền. Liên tiếp phá các tổ chức phản cách mạng: “ Mặt trận thống nhất phục quốc” do Tống Châu Khang làm chủ tịch và Nguyễn Nhuận làm cố vấn cùng gần 50 tên khác; “ Mặt trân dân quân phục quốc Việt Nam tại Thừa Thiên – Huế do Hà Xuân Hùng, Thích thiện Tấn và Phan Nhất Linh cầm đầu, cùng với 19 tên khác ( tháng 8/1978); “Mặt trận quốc gia kháng chiến chống cộng” do Thích Thiện Tánh, Thích Chơn Phương, Thích Giác Minh cầm đầu ( tháng 8/1979); vụ Nguyễn Thúc Tuân, nguyên là đại biểu Quốc Hội khóa VI, Trưởng Ty thể dục thể thao Bình trị Thiên làm gián điệp ( tháng 4/1980); vụ gián điệp Trương Sử. nguyên là Bí thư chi bộ, Trạm trưởng Tram ngoại thương Hương Điền; vụ tổ chức phản cách mạng do tên Trần Ngọc Tình cầm đầu  (tháng 1/1984)…

Trong số trận đánh án phá gầm 20 tổ chức phản cách mạng và làm gián điệp, ngăm chặn kịp thời âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, của bọn phản cách mạng trong những năm đầu Trị Thiên – Huế mới giải phóng, Bình Trị Thiên mới hợp nhất, mà lực lượng Công an là con em của Quảng Bình đã được đào tạo chính quy chiếm gần 60% quân số đã có 4 vụ đánh án trong dịp Tết cổ truyền.

Còn nhớ và lịch sử mãi mãi còn ghi đậm chiến công của lực lượng Công an nhân dân Bình Trị Thiên, năm 1978. Trong lúc mọi người, mọi gia đình trên đất Việt thân yêu của chúng ta đang náo nức chuẩn bị ăn Tết cổ truyền của dân tộc, thì bọn phản cách mạng mệnh danh là “Mặt trận phục quốc Trị - Thiên” do tên Phạm Lự cầm đầu, với quân số đã lên trên 500 tên, có đủ loại phương tiện và vũ khí, từng đã gây ra các vụ nổ ở Đài truyền thanh Đông Hà, bải chiểu phim Thủy Dương, nhà ông Trưởng Ty Tài chính, xe của Bí thư tỉnh ủy. rạp Hưng Đạo… chuẩn bị thực hiện kế hoạch đánh chiếm các cơ quan trọng điểm của tỉnh, trong đó có đài phát thanh và Đài truyền hình tỉnh để công bố cương lĩnh, điều lệ, thành lập chính quyền mới! Nắm được âm mưu và ý đồ nguy hiểm của bọn chúng, đúng vào kỷ niệm lần thứ 48 ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh (3/2/1978), nhằm ngày 26 tháng Chạp năm 1977, Công an tỉnh phát lệnh phá án. Đội mưa, rẽ gió, xuyên qua lạnh giá đêm đông, ủy thác cho vợ con chuẩn bị đón Tết mậu Ngọ, với cơm nắm. cơm đùm và lương khô, chai nước, các lực lượng Công an trong tỉnh vào trận. Biết rằng trong trận này có thể có người phải hy sinh, bởi bọn chúng là những kẻ khùng điên, manh động, nhưng vì cuộc sống bình yên của nhân dân, vì hanh phúc của mọi gia đình, vì cái Tết cổ truyền vui vẻ, ai cũng sẵn sàng nhận nhiệm vụ, lên đường. Nhờ nắm chắc tình hình và kiên trì, dũng cảm, trước lúc tiếng pháo  rền vang trong giờ phút giao thừa chào đón năm mới, các lực lượng Công an đã bắt gọn 31 tên cầm đầu trong cái tổ chức phản cách mạng gọi là “ Mặt trận phục quốc Trị-Thiên”, buộc gần 500 tên khác phải ra quy hàng đầu thú, ngăm chặn kịp thời âm mưu lật đỏ chính quyền cách mạng trong dịp Tết Mậu Ngọ của chúng.

Tết càng thêm vui. Mọi người càng yên tâm dắt nhau đi dạo Tết và lại được đọc nhiều kỳ trên báo Dân của Kim Cương, càng hiểu thêm, quý trọng hơn, cảm phục và yêu thương hơn hững chiến sĩ Công an nhân dân, một đời “chỉ biết còn Đảng là còn mình” như cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẫn đã đánh giá và lời chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Công an nhân dân vì nước quên thân – vì dân phục vụ”…

Chuyện còn dài kỳ lắm. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện gian nan vất vã. Chuyện vui…cứ xãy ra thường xuyên, rồi lùi lại trở thành dấu ấn lịch sử, để cho cái mới phát sinh. Thế mới biết “ chuyện thần kỳ dân tộc ta là vậy”! Cứ nhìn lại 27 năm về trước, sau 13 năm “ tỉnh dài, xã rộng, huyện to” theo “ tư tưởng lớn”, khi được chia lại, trở về với địa giới cũ – địa giới “ Quảng Bình quê ta ơi” gần như bị bỏ rơi suốt cả 13 năm ấy. Thị xã Đồng Hới vẫn còn là bải đổ nát tan hoang. Các huyện, các xã, các làng vẫn chìm trong đói khổ, với đa số là nhà tranh vách đất, mùa Đông lạnh giá, mùa hè chói chang và nóng bức, cán bộ phải đi cào gom từng rổ đá sạn mua vôi Long Thọ về đúc Blô để xây nhà… Vậy mà giờ đây “ quê ta bao đổi thay rồi”. Sự đổi thay nhanh chóng ấy đã được chứng minh bằng những việc làm, những con số cụ thể đã được ghi đầy đủ trong các báo cáo của Đảng, của chính quyền hàng năm và trong từng nhiệm kỳ, ghi lại dài dòng lắm. Chỉ biết rằng các nhà khảo cổ, các nhà sưu tầm đồ cổ đế Quảng Bình giờ đây khó mà tìm ra nhà tranh vách đất, khó mà tìm ra cái cày chìa vôi, cối xay lúa, cối giả gạo, khó mà ghi được hình ảnh “ Bầm ra ruộng cấy Bầm run – Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non”…Cách đây 5 năm, cùng đoàn văn nghệ sĩ lên vùng cao Minh Hòa, đến các bản dân tộc xa xôi hẻo lánh, nhìn cảnh, tôi buột miệng “ Đường sá ở đây toàn Btông, bằng phẳng và rộng rãi, hơn cả đường ở thôn tôi ở Đồng Hới rồi”. Bây giờ, đi đâu cùng trên đường nhựa, đường Btông. Nhà ở, nhà trường, bệnh xá, bệnh viện, công sở phần lớn là nhà kiên cố, nhà cao tầng, khang trang, ăn ở thỏa mái. Lao động đã có máy thay người. Điện đến tận từng nhà. Đồng quê ầm vang tiếng xe máy. Đồng Hới đã lên đô thị loại 2. Ba Đồn đã lên thị xã. Nhiều nơi đang phấn đấu vài năm tới thành đô thị. Nhiều vùng quê khang trang hơn những thị trấn ngày xưa…Người dân đã biết chọn ăn hạt gạo thơm ngon, biết chọn ăn rau sạch, mọi loại thực phẩm sạch…Càng qua nhiều gian khổ, càng biết kén chọn để cho mình ngày càng đảm bảo hơn, hoàn thiện hơn…

40 năm trước – bây giờ: đổi thay, thay đổi một vực – một trời, không thể tưởng tượng nổi, không thể không tin vào công cuộc đổi mới đất nước…

 

                                                              Xuân Bính Thân-2016

                                                                                                                                                                                            K.C

                                                                                                                            

 

Địa chỉ: Kim Cương – Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình- Đt: 0916897726- 01668882269

 

 

 

 

                                      DUYÊN

                    (Kỷ niệm những chuyến đi)

                                                                   Ghi chép của Kim Cương

 

          Anh chị em văn nghệ sĩ trong tỉnh thường nói “ đi mô mà có Đại tá Kim Cương là gặp may”. May nhiều thứ lắm. May khỏi gặp thiên tai. May trong ẩm thực. May trong các hoạt động và trong cả việc đi lại…Chẳng phải là để khoe khoang làm gì, bởi bản thân cũng chẳng được thêm thưởng gì cả, chỉ là cái duyên mà có. Nhớ lại năm ngoái ( 2014), cả đoàn đi thực tế ở các tỉnh phía Bắc trước bao nhiêu cú điện thoại đe dọa đủ điều, nhưng thượng lộ vẫn bình an, vẫn vãn cảnh hết vùng Bái Đính lại về Quảng Ninh. Vừa ở đỉnh cao 1068 mét của núi Yên Tử xuống, có người đề nghị ở lại một ngày để dưỡng sức, tôi động viên lên Hà Nội rồi nghỉ. Quả nhiên, ngày hôm sau về đến Quảng Bình, thì cơn bão PARMA ập vào Quảng Ninh! Tiếp đến tôi lại được phân công đưa 15 văn nghệ sĩ vào trại sáng tác ở Vũng Tàu với chức danh Trại trưởng. Lần đầu tiên Hội văn học nghệ thuật tỉnh được phân bổ vào điển đến hấp dẫn này. Tất cả đều lạ. Lạ đất, lạ người, lạ đường, lạ trong tiếp xúc. Mặc dù lúc đang ở Quảng Bình, với trách nhiệm được giao, tôi đã dò hỏi được tên và số điện thoại di động của ông Hội trưởng Hội đồng hương ở Vũng Tàu. Ông tên là Thành, cũng là một Đại tá quân đội nghĩ hưu. Suốt cả thời gian chuẩn bị đi, cho đến đêm đầu mới đến Vũng Tàu, tôi vẫn liên lạc với ông Thành thường xuyên và mời ông, mời một số anh chị em đồng hương sáng mai đến dự khai mạc trại. Ông nhận lời vui vẻ lắm. Tưởng thế là vui chẳng có gì bằng. Vậy mà, suốt cả thời gian chuẩn bị khai mạc, điện mãi không thấy ông cầm máy, đồng hương đến chỉ có một người là bạn của anh em trong đoàn. Đến giờ là làm việc. Quà của Hội mang đi đành phải trao sai đối tượng, nhưng phải thực hiện cho “hoành tráng”! Khai mạc xong, đến bữa cơm thân mật, Lê Trọng Duận và nhiều anh chị em cứ nhìn vào tôi hỏi:

- Sáng nay, Đại tá tổ chức rất hoành tráng và vui vẻ thế, sao trong bữa ăn lại buồn vậy?

- Đúng là quá buồn, mời đến nơi đến chốn và hết sức nhiệt tình như vậy mà chẳng thấy đồng hương đến, mất duyên, mất vui…

Hóa ra, cái ông Thành ấy nhận bừa, còn Hội trưởng Hội đồng hương là ông Thành khác. Ông bà xưa thường nói “ Gái có công, chồng không phụ”, từ Tuyến là người Cự Nẫm và mấy anh bạn ban đầu, từ vợ chồng anh Ngọc người huyện Quảng Ninh, ngày hôm sau chúng tôi có thêm Phiên người Trần Xá ( Hàm Ninh), thêm Yên là Phó Chủ tịch Hội đồng hương, lại có Minh người Quảng Trạch là Chánh văn phòng Ủy ban tỉnh, rồi Nam, rồi Tình, rồi Thọ… Họ nhiệt tình với chúng tôi không bờ bến. Họ luôn đến với chúng tôi và luôn mời chúng tôi đến với họ, đến với quán café Phong Nha – hình quán được thiết kế như hang động ở Phong Nha, vào quán như vào động Tiên, rồi đến trang trại của Khương ( em của Phiên) nuôi đủ loại con, trồng đủ loại cây. Ở đây, chúng tôi được gặp Trần Đức Nam, từ một cậu bé nghèo ở xã Quảng Thọ, phải bỏ học từ năm lớp 8 theo chị vào Vũng Tàu kiếm kế sinh nhai. Tuổi thơ của Nam đã chìm sâu trong bao công việc của người làm thuê. Vừa làm, vừa học, học từ thực tế công việc, dần dần Nam trở thành một người thợ lành nghề, có thể nói là thành một nhà sáng chế đa tài. Nam sáng chế ra cả máy in rồi tự lập cơ sở in lụa, in bao bì, in những gì mà khách yêu cầu. Khi thành lập công ty hút bồn cầu, Nam tự chế ra xe bồn cở lớn với hình thức rất đẹp được mọi người gọi là “ Hoàng hậu xe bồn”. Lập công ty Ong Biển sản xuất phân vi sinh, Nam tự chế ra cả dây chuyền sản xuất hiện đại, cung cấp phân bón sạch cho khắp mọi nơi ở miền Nam, đưa sang tận Lào, nơi nào cũng đánh giá cao chất lượng phân của Ong Biển. “ Đã là người Quảng Bình – người của quê hương Hai giỏi là phải như vậy!”- Nam nói thế. Bây giờ thì đừng nói tiền với Nam, bởi theo Nam nói thì “ Bây giờ làm là để phục vụ xã hội, tiền đối với Nam không cần nữa!”. Nam đang có dự định ra Quảng Bình giúp xây dựng một nhà máy xử lý rác thải cở lớn và một số công trình khác…Làm được, nói được, học vấn thì ít, nhưng chuyện văn chương, chuyện lịch sử, chuyện khoa học…của cả trong nước và trên thế giới, nghe Nam nói cứ như diễn thuyết khó lòng dứt ra được. Cả 15 anh chị em văn nghệ sĩ Quảng Bình cứ ngồi nghe và chép không kịp…

Chuyện của Nam thì dài lắm không thể viết vài trang được. Anh em đồng hương Vũng Tàu lúc nào cũng mời chúng tôi đi tham quan, đi một số cơ sở sản xuất và kinh doanh ở Vũng Tàu, đi nhậu, đi uống café. Nghe Trại trưởng tuyên bố chỉ chấp nhận khoảng 5 bữa, trong đó có bữa chung với cả Hội đồng hương, để anh em còn có thời gian sáng tác nhiều anh hăng máu tuyên bố “ nếu trong thời gian ở trại bận, thì sau trại phải ở lại với bầy tui một tuần”. Chỉ tiếc là thời tiết lúc bấy giờ xấu nên anh em trại không thực hiện được chuyến ra Côn Đảo theo ý định của đồng hương, bởi ngoài ấy có nhiều người Quảng Bình làm lãnh đạo lắm. Không theo được những ý muốn, khi bế mạc Trại, Đức Nam đành phải cho xe chở anh em lên Ga Sài Gòn, còn kèm thêm cả kinh phí đi đường nữa. Những người khác thì vác bia đến bữa cơm chia tay, đưa bia lên xe, đến Ga Đồng Hới rồi mà còn mấy hộp bia toàn là bai Heniken loại hộp cao gấp đôi hộp bia thường! Lại một trận mưa dữ dội ập xuống. Trưởng trại cầm máy điện cho mọi người, thì ai cũng đã về đoàn tụ vui vẻ trong gia đình.

Cái duyên là như vậy. Đi đâu cũng gặp may. Từ Vũng Tàu về mới được mấy ngày, nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi lại được cử làm trưởng đoàn dẫn gần 30 văn nghệ sĩ là cựu chiến binh đi thực tế. Đoàn đã ra dâng hương Đại tướng, thăm bảo tàng Quân khu IV, đến dân hương 13 liệt sĩ ở Truông Bồn và 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc. Chị em văn phòng Hội hăng hái, nhiệt tình chuẩn bị phục vụ chu đáo. Thay vì những ứng khẩu tào lao, ở mỗi điểm đến được trưởng đoàn soạn sẵn một bài khấn nghiêm túc. Nhờ anh linh của các liệt sĩ phù hộ độ trì, những ngày đoàn hành hương trời quang sáng đẹp. Sau buổi liên hoan chia tay ở Ba Đồn, mọi người về đến nhà thì trời mưa tầm tả.

Đó là chuyện năm ngoái. Giữa tháng 9 năm 2015 này, trước lúc đoàn của Hội đi thực tế bốn ngày, tôi mới được chuẩn y làm đoàn trưởng của đoàn 13 người, trong đó có 7 ủy viên Ban chấp hành Hội. Mưa trắng trời trắng đất trên cả nước. Điểm đến của đoàn là Tây nguyên, thì Tây nguyên cũng đang mưa to gió lớn, nhiều nơi bị sạt lở. Đã nhiều lần lên với Tây nguyên, nhưng nghe nói đi Tây nguyên là tôi lại háo hức. Giữa Tây nguyên và tôi như đã có duyên nợ với nhau. Nhắc đến Tây nguyên là trước mắt tôi lại hiện lên những ngôi nhà rong, những nhà mồ; hiện lên những lễ hội đặc sắc như: lễ hội cồng chiêng, lễ đâm trâu, Pơ thi (bỏ mả), mừng lúa mới, múa xoang, lễ lớn khôn…Văn hóa Tây nguyên cổ truyền đa dạng của các dân tộc, với những truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam san dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rong và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn. Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng là niềm tự hào của các dân tộc Tây nguyên, của văn hóa dân gian Việt Nam. Bộ đàn đá của người M’nông ( huyện Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đak R’lấp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T’rưng, đàn Klongput, đàn nước…mỗi khi vang lên thúc dục lòng người. “ Trời Tây nguyên xanh. Hồ trong nước xanh. Trường Sơn xa xanh, ngút ngàn cây xanh. Bài ca Tây nguyên anh yêu trọn đời…”.Tình ca Tây nguyên níu kéo lòng người. Tôi đã từng đến chiêm ngưỡng thác Yaly cao trên 40 mét có nhiều bậc là dòng thác đẹp nhất và lớn nhất Tây nguyên trên sông Pô cô, nơi có nhà máy thủy điện Yaly với công suất 720MW và sản xuất lượng điện là 3,68 tỷ KWh, thác Xung khoeng hoang dã ở huyện Chư Proong, thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê, thác Đ’ray Sap, Biển hồ ( hồ Tơnưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng – núi Hàm Rồng cao 1.092 mét mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt; Hồ Lăk ở huyện Lăk – nơi mà cựu Hoàng đế Bảo Đại thường đến ngắm cảnh, săn bắn, nghĩ ngơi mỗi khi có dịp lên Buôn Mê Thuột, hiện đang có bạn Thượng người Đồng Hới làm trưởng Công an huyện; đến với Vườn quốc gia Yok Đôn nằm bên sông Serepok, là nơi cư trú của 62 loài động vật có vú, 196 loài chim, 13 loài lưỡng cư, có 38/56 loài động vật hiếm thống kê được ở Đông Dương, có nhà sàn 100 năm, có lăng của trưởng tộc H’nông già làng có công khai phá, được cưởi voi, được ăn cơm lam, uống rượu A Ma Kong dũng sĩ săn voi số 1 Việt Nam; đến ngã ba Đông dương, đến dâng hương tưởng niệm ở Ngục Kontum và nhà tù Buôn Mê Thuột, đứng chụp ảnh trên cầu treo Kon Klor và nhà thờ gỗ…Mỗi lần đến, là mỗi lần tranh thủ đi để được ngưỡng mộ nhiều cái hay và cái đẹp ở Tây nguyên, càng đi càng thấy hấp dẫn…

Theo kế hoạch đi ngày 19, nhưng đài báo đến ngày 18 miền Trung và Tây nguyên còn mưa to và rất to. Thường trực hội và đoàn trưởng hội ý liên tục và có ý có thể hoãn chuyến đi. Bỗng dưng giữa ngày 17 trời hửng nắng, Hội khai mạc Trại sáng tác vui vẻ. Vừa nhận nhiệm vụ khai mạc và cắt băng khi trương triển lãm “ Một mình” của họa sĩ Nguyễn Lương Sáng, tôi lại vừa mày mò tìm tên và số điện thoại của các vị lãnh đạo các Hội văn học nghệ thuật ở Tây nguyên và bạn bè ở trên đó, rồi lại điện để liên hệ.

Ngày lên đường lại là ngày 7 âm lịch – ngày mà mọi người thường kiêng cự xuất hành, bởi người xưa đã đúc kết “ chớ đi ngày 7, chớ về ngày 3”. Vợ tôi có nhắc khéo, nhưng “ đảng viên loại I” thì sợ chi! Đúng giờ Thìn chúng tôi xuất phát. Mặc dù trước đó có vài ý kiến nên thay đổi lịch trình để đảm bảo sức khỏe, nhưng phần đông anh chị em trong đoàn đều chung một hướng: thẳng tiến lên Tây nguyên! Lái xe Long trẻ khỏe cầm chắc vô lăng tỉnh táo điều khiển xe. “ Loa phóng thanh” Bách Chiến phát liên tục nhiều chuyện và nhiều bài hát tự “ tạc bày”, với ngôn ngữ cụ thể chưa thoát tục, nhưng đã tăng thêm nhiều “thang thuốc bổ” cho mọi người, sau những tràng cười sảng khoái. Những chuyện tếu của Bình An, Quang Trí, Ngô Độc Lập, Hoàng Đại Hữu… nối tiếp nhau không ngớt, kéo theo những lời bàn luận, những tiếng cười vui vẻ, quên cả mệt nhọc, đẩy đoạn đường đã qua dài ra. Đèo Lo xo như cũng bớt quanh co và nguy hiểm. Quốc lộ 14 – một phần của đường Hồ Chí Minh vừa làm xong, được ví như một dãi lụa đẹp, chạy từ Quảng Nam lên Tây nguyên chạy êm ru. Chẳng có ai kêu mệt và ngủ gật. Tất cả đều vui, cười, nói thỏa mái. Đoạn nào có cảnh đẹp là xe phải dừng laị để các nhiếp ảnh gia Ngô Độc Lập, Bách Chiến, Bùi Cường và những người mang máy ảnh đi theo ghi hình, lại phải dừng giữa đèo Lo xo để thắp hương tưởng niệm những người tử nạn do tai nạn, có Quan âm Bồ Tát chứng giám và phù hộ. Mới đi được nữa đường thì điện thoại của đoàn trưởng liên tục reo lên. Từ Kon Tum, hết Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Lại Hữu Kim, đến Thanh Loan phó văn phòng Hội đang chờ đoàn, thay nhau điện hỏi. Chủ khách sạn Tây nguyên – nơi Hội văn học nghệ thuật đặt nghĩ với giá vừa túi của đoàn củng điện. Họ quan tâm quá. Quá tình cảm. Quá cảm động. Để làm dịu sự nóng lòng đợi chờ của họ, nhiều lần trưởng đoàn đã thông báo dối về khoảng cách, như còn 100 cây số thì nói là 60 cây, còn 70 cây thì nói 30…Ước tính khoảng 17 h đến Kon Tum, nhưng phải hơn 19h mới đến. Dọc đường phải dừng laị nhiều lần quá. Dừng cho anh em chụp ảnh. Dừng cho cánh thơ văn ngắm cảnh – đi thực tế mà! Quốc lộ 14 và cả vùng rừng núi từ Quảng Nam đến Kon Tum đã từng để lại cho Ngô Độc Lập và Bách Chiến bao kỷ niệm. Ngô Độc Lập từng có gần 10 năm làm công tác khảo sát và bảo vệ rừng ở đó. Còn Bách Chiến thì theo thi công đường dây 500KV thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt chủ xướng, lặn lội khắp núi rừng và khe suối đãi sạn, cõng đá dựng trụ đường dây, cách đây 23 năm…Các anh còn nhớ như in từng vị trí, những hoạt động và cuộc sống của mình và đồng đội, trong những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ, giữa rừng thiêng, nước độc và bao nhiêu nguy hiểm rình rập. Nghe các anh kể, ai cũng cảm động. Mong sao Lại Hữu Kim, Thanh Loan và các anh, các chị trong Hội văn học nghệ thuật Kon Tum cảm thông!

Hơn 700 km đường Quốc lộ I và Quốc lộ 14 lùi về phía sau. Theo chỉ dẫn, chúng tôi đến ngay khách sạn Tây nguyên – đến với Kon Tum là một trong ba cao nguyên lớn của Tây nguyên – nơi có dãy núi Hoa cương cao nhất miền Nam, đỉnh Ngọc Linh cao gần 2.600 mét, nơi bắt nguồn của các sông Tranh, sông Thu Bồn và sông Trà Khúc, có chiều dài biên giới 275km tiếp giáp với hạ Lào và bắc Cămpuchia. Thành phố nằm bên bờ sông Đắc Pla giữa đồng bằng nhỏ, là trung tâm hành chính cũ của Pháp ở Tây nguyên. Các cố đạo Pháp đã đến đây từ năm 1851. Thanh Loan đang đợi chúng tôi ở nhà nghỉ, dẫn đến  một nhà hàng sang trọng. Ở đó đã có Chủ tịch Hội Lại Hữu Kim, Phó Chủ tịch Hội Nguyễn Viết Huy là người của Phường Hải Thành ( Đồng Hới), nhà thơ Tạ văn Sỹ và một số anh chị em trong Hội. Rượu Quảng Bình do chúng tôi mang vào, hòa với bia chủ mời khách ấm nồng tình cảm. Chuyện văn, chuyện đời. quyện với lời mời chúc tụng cứ râm ran tận khuya. Sáng dậy, theo sự phân công của Chủ tịch Hội, nhà thơ Tạ văn Sỹ dẫn đoàn đi tham quan. Ở anh như một kho tư liệu của vùng Tây nguyên. Chuyện gì anh cũng biết, lại có nhiều chuyện liên quan đến vùng đất Quảng Bình đầy cảm động. Anh đưa chúng tôi đến ngục Kon Tum, rồi thay lời hướng dẫn viên, thuyết minh; lại đưa về nhà thờ gỗ, cầu Kon Klor, làng cổ nhưng không còn nhà cổ, đến nhà rong văn hóa…Đến đâu anh cũng giới thiệu cặn kẻ. Nhiều người trong đoàn lấy giấy bút ghi mỏi cả tay. Lâu nay, nhiều người cứ nghĩ rằng cây Kơ nia chỉ là cây tượng trưng, bởi không thể có loại cây rễ dài ra tận miền Bắc để uống nước nguồn! Có người hỏi:

- Có cây Kơ nia thật không anh?

- Có chứ! – Tạ Văn Sỹ trả lời và nói: - Bây giờ thì cây Kơ nia đã bị mất đi nhiều rồi. Con người tàn phá rừng dữ quá, làm cho nó cũng biến mất. Ở giữa thành phố này còn một cây rất to, tôi sẽ đưa các bạn đến đó.

Ai cũng muốn đứng chụp ảnh dưới cây Kơ nia. Chụp một mình, chụp chung, chụp nghiêng, chụp đứng, chụp ngồi…nhưng có lẽ chăng ai biết rằng cây Kơ nia không chỉ chỉ có màu xanh bốn mùa, tượng trưng ý chí Nam – Bắc một nhà, có “ bóng tròn che lưng mẹ”, mà có hoa đẹp, có quả, có hạt. Hạt của cây Kơ nia một thời nhiều lắm, trở thành thức ăn chống đói trong mùa giáp hạt…

Trưa. Đoàn chia tay với Tạ Văn Sỹ bằng một bữa cơm thân mật trong thành phố, rồi tiếp tục vào Gia Lai. Rong ruổi hết buổi khắp chợ và trung tâm thương mại, chiều chúng tôi được vợ chồng Võ Việt Hùng mời cơm ở quán Thiên Đường. Hùng người Phú Thủy ( huyện Lệ Thủy) là anh của kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa nổi tiếng khắp thế giới, là con rể của ông Nguyễn Hồng Lam – người có công đầu trong việc đưa phân vi sinh về Việt Nam. Hiện anh là Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Quế Lâm Tây nguyên. Bình quân mỗi năm Công ty anh sản xuất trên 25.000 tấn phân hữu cơ vi sinh, cung cấp cho các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông, BÌnh Định, Phú Yên và Khánh Hòa.Bữa cơm sang trọng trong  nhà hàng sang trọng nằm bên một cánh đồng lộng gió mát rượi. Vừa ăn, vừa chúc tụng nhau, chúng tôi vừa hát và đọc thơ cho nhau nghe những bài về miền Trung, về Quảng Bình quê hương yêu quý…Đang vui, thì một tin vui nữa đến. Hùng và Bách Chiến nói to với tôi để anh em cùng nghe:

- Ông Nguyễn Hồng Lam điện nói lúc nào đoàn ra mời ghé vào Huế cùng gia đình dùng bữa cơm thân mật, đoàn trưởng có sắp xếp được không!

Cả đoàn vỗ tay. Tất nhiên là đoàn trưởng vui hơn nhiều. Người Quảng Bình, kể cả người của rất nhiều tỉnh, ai mà chẳng biết ông Nguyễn Hồng Lam. Ông Lam phân vi sinh Sông Gianh ấy mà! Ông là người Hà Tĩnh, lấy vợ người Lệ Thủy, rồi định cư lâu năm ở Quảng Bình, là người đầu tiên trong nước áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh; là một trong những công nghệ tiên tiến với các chủng vi sinh vật từ Tập đoàn Na ta gri của Ca na đa, do cố Giáo sư tiến sĩ Phạm Văn Hữu và nhóm Việt Kiều Bắc Mỹ chuyển giao vào xây dựng nhà máy phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh nổi tiếng một thời. Hồi ấy, ông vào Đồng Hới xây dựng nhà máy sản xuất bao bì ở Phường Bắc Lý, khi khánh thành có cả ông Phạm Văn Hữu từ Ca na đa về. Trong thời điểm camera trong tỉnh còn hiếm, Đài phát thanh truyền hình tỉnh chỉ có vài ba chiếc M5 như chuyên mục truyền hình “Vì an ninh Tổ quốc” do tôi phụ trách, nhận lời ông, tôi đã cùng lính quay phim và làm cho ông hai băng buổi lễ, để ông Hữu kịp đưa về một băng. Hiện giờ, ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Quế Lâm, có 6 nhà máy sản xuất ở Chư Prông ( Gia Lai), Bình Xuyên ( Vĩnh Phúc), Hương Trà ( Thừa Thiên – Huế), Đắc Nông, Thạnh Hóa ( Long An). Tập đoàn của ông còn nghiên cứu sản xuất ra gạo hữu cơ không phun thuốc diệt cỏ, không phun thuốc trừ sâu, không sử dụng hương liệu…là loại gạo sạch đảm bảo cho sức khỏe, đang được các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi ký kết phối hợp phát triển. Ông còn có gần chục héc ta đất ở Thừa Thiên – Huế chuyên sản xuất cây ăn quả đặc sản có năng suất cao như Bưởi, Ổi, các loại rau…Bây giờ thì gia đình ông đã sinh sống trong khu Quế Lâm Viên, ở 50 – Đường Phú Mộng, Thôn Phú Mộng, làng Kim Long, bên dòng sông Hương thơ mộng – nơi chôn rau cắt rốn của tướng Tôn Thất Thuyết, nơi có nhiều tư dinh của các đại thần Triều Nguyễn. Quế Lâm Viên của Tập đoàn Quế Lâm rộng gần 4000 mét vuông, với những ngôi nhà rường có niên đại trên 100 năm, có nhiều sinh vật cảnh quý hiếm, có hồ nước, có hòn non bộ, có vườn cây hoa trái bốn mùa…

Sáng dậy, cả đoàn kéo nhau lên vãn cảnh Biển hồ Tơ nưng. Hồ cách thành phố Pleiku chỉ 8 cây số đường chim bay. Biển hồ nguyên là một miệng núi lửa ngừng hoạt động đã hàng trăm triệu năm để lại, có diện tích trên 230 ha. Hồ có độ sâu trên 30 mét. Nước hồ quanh năm đầy ắp và trong xanh, nhìn xuống thấy từng đàn cá bơi lội. Mỗi năm hồ cung cấp hàng trăm tấn cá cho dân trong vùng. Biển hồ Tơ nưng được ví như hạt ngọc của Pleiku, của cả Tây nguyên và là một điểm du lich quan trọng của tỉnh. Đẹp thì đẹp thật, nhưng như nhiều người nói: “ Biển hồ và các hồ ở Tây nguyên so với gần 120 Km bờ biển và nhiều hồ ở Quảng Bình thì…”. Tất nhiên, ở mỗi nơi có cái đẹp riêng, cần đến để biết!

Từ Biển hồ, chúng tôi đi thẳng lên Đăk Lăk. Dọc đường còn đón người thủ trưởng năm xưa ở chiến trường miền Nam của người “ Chắp nối Trường Sơn” Nguyễn Xuân Sùng là Lê Anh Tứ, người ở tỉnh Nam Hà, đang ở Gia Lai. Có người càng thêm chuyện. Những câu chuyện đầy cảm động của hai chiến sĩ năm xưa, trong cuộc chiến đấu một mất, một còn, đầy hiểm nguy và gian khổ, khó khăn với kẻ thù, với tinh thần tất cả để giải phóng miền Nam, tất cả  vì thống nhất Tổ quốc, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trải ra trên gần 200km đường, cuốn hút mọi người. Dọc đường, nhiều lần tôi còn phải cầm điện thoại nghe những lời hỏi thăm chào đón của Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Lê Khôi Nguyên và An Bình thư ký tòa soạn Tạp chí ChưYangsin. Cả ban lãnh đạo Hội Đăk Lăk đang chờ đón chúng tôi. Tưởng  là chỉ xin “quá giang” một đoạn lên Buôn Mê Thuột thăm con, không ngờ vừa đến cổng nhà đứa con gái đầu, cả một đoàn người cả con, cả rể, cả cháu của Lê Anh Tứ ùa ra đón và mời vào nhà dùng cơm, với nhiều thức ăn ngon đã dọn sẵn! Trưởng đoàn chạnh lòng, bùi ngùi cảm động. Biết được như vậy, Lê Anh Tứ và mấy đứa con liền nói:

- Được gặp các cô chú văn nghệ sĩ Quảng Bình và có đồng đội của ba vào là quý lắm. Nghe ba báo là tất cả chúng con liền khẩn trương chuẩn bị, mong các cô các chú cùng vui vẻ với đại gia đình…

Tôi đành phải báo lại lịch trình với Lê Khôi Nguyên, rồi cả đoàn đến nhà nghĩ An Thái – 64 Ngô Quyền thuê nghỉ.

Sau một đợt mưa to, đêm ở Buôn Mê Thuột trong lành, mát mẻ. Một số người mệt, nghỉ. Một số hăng máu “ sinh hoạt”! Mấy chị em Trác Diễm, Hà, Thùy đi dạo phố. Thành phố sầm uất. Người đông như hội. Vậy mà cả ba chị em lại gặp duyên. Cả ba chị em gọi một xe taxci để đi, thì lái xe là người Cự Nẫm làng tôi vào sinh sống và lập nghiệp. Đồng hương gặp nhau chẳng cần phải tiền bạc, vẫn được đến những nơi muốn đến, lòng vong dạo khắp phố, còn được lái xe mời uống café, mời về nhà chơi và dặn “lúc nào cần cứ gọi!”...Nghe ba chị em kể lại mà lòng thêm vui. Vui với cái duyên, với tình cảm quê hương mặn nồng, ấm áp.

Sáng hôm sau, chúng tôi đi Buôn Đôn. Đường tốt. Lái xe Long ấn thêm một tý ga. Xe chạy 55Km/h ( quá tốc độ 5Km), bị Cảnh sát giao thông tuýt còi. Thế là Đại tá Kim Cương phải xuống xe tiếp cận cảnh sát. Đã một lần đưa đoàn đi Trại sáng tác Tam Đảo bị cảnh sát giao thông giáo huấn  “Bác là Đại tá Công an lại càng phải chấp hành tốt hơn”ở Hà Nội, tôi không xưng danh, mà đành phải nhờ bạn. Bạn của trưởng đoàn ở đây nhiều lắm. Có đến hai Đại tá người Lệ Thủy là Phó Giám đốc Công an tỉnh và mấy Đại tá là trưởng phòng, trưởng Công an huyện.

- Báo cáo các đồng chí – Tôi giơ tay chào và nói: - Đúng là anh em sai rồi, nhưng vì vội theo điện mời của anh Phạm Hữu Nhạc và anh Nguyễn Thế Lực – Tôi mở nhật ký điện thoại cuộc gọi đến ra và nói tiếp: - Mong các đồng chí thông cảm!

- Anh Nhạc và anh Lực làm ở đâu? – Đồng chí trung tá cảnh sát hỏi.

- Đó là hai anh Phó Giám đốc Công an tỉnh này – Tôi trả lời và mở máy điện cho Lực. Mới cầm máy, Lực đã nói:

- Trông đợi bác mấy ngày nay, đến lúc bác lên thì em lại có điện đi họp gấp ở Sài Gòn. Em vừa đi sáng nay, mong bác thông cảm…

Tôi nói chuyện với Lực và đưa điện thoại cho các đồng chí cảnh sát giao thông.

Sau cú điện, chúng tôi chào nhau rồi tiếp tục hành trình. Đến Buôn Đôn là để được cưỡi voi, được đến nhà sàn cổ mua Amakông về ngâm rượu tẩm bổ, để được ra giữa cù lao chiêm ngưỡng sự kỳ diệu của thác bảy nhánh, để được ngắm cảnh, được chụp nhiều ảnh đẹp, để hiểu biết thêm về vùng đất có ông Y Prông E Ban – một dũng sĩ săn bắt và thuần dưỡng hơn 100 con voi rừng, có mộ của vua voi Y Thu người đã từng săn bắt và thuần dưỡng 180 con voi…Đạt được ý muốn, chúng tôi quay về điểm hẹn của Hội văn học nghệ thuật Đăk Lăk đã hơn 12 giờ. Chủ tịch Hội Lê Khôi Nguyên, Phó Chủ tịch Tiến kiêm Tổng biên tập Tạp chí, An Bình và anh chị em trong Hội đã nhiều lần điện trong buổi sáng và đợi cơm chúng tôi lâu rồi. Phần lớn anh em trong Hội đều quê ngoài Bắc. Tôi và thường trực Hội đã từng tiếp đón một số anh ở Quảng Bình. Tình cảm và quý mến nhau lắm. Đúng là “ Ta yêu nhau thì về Buôn Mê Thuột. Còn yêu nhau thì về Buôn Mê Thuột”. Dù đã quá bữa, nhưng cuộc hội ngộ vẫn rất sôi động, rất tình cảm. Uống hết mình. Hát hết mình. Hát những bài hát về quê hương của những người có mặt tại đây. Khôi Nguyên người nhỏ nhưng khí khái lắm. Con nhà nòi mà! Ông bố vừa rời ghế Chủ tịch Hội thì con được bầu vào. Khẩu khí anh ta cứ lưu loát,vang vang. Làm được, nói được, nói có lý, có tình, có ích cho xã hội. Nghe mọi người nói thì tiếng nói của anh rất có trọng lượng trong tỉnh. Lãnh đạo tỉnh luôn quan tâm ủng hộ. Trong lúc Quảng Bình nghỉ hưu là nghỉ, thì anh ta thu mời những người nghỉ hưu có tài đang làm được việc về Hội, về phụ trách Tạp chí. Năm ngoái, họ cử một đoàn do Phó Chủ tịch Tiến dẫn đầu gọi là “ ra học tập kinh nghiệm Quảng Bình”, vậy mà bây giờ Hội văn học nghệ thuật Đăk Lăk quá mạnh. Hội viên của họ chỉ ít hơn Quảng Bình 40 người, nhưng Hội hoạt động thì rất chủ động. Một tác phẩm văn xuôi in trên Tạp chí đã lên gần 600.000 đồng. Khôi Nguyên nói chuyện sảng khoái và tự tin lắm. Nhìn và nghe anh ta nói mà tâm phục, khẩu phục!. Anh ta còn dẫn đoàn đi uống café ở một quán sang trọng và cử một cán bộ theo sát đoàn dẫn đi tham quan thác Đ’ray sáp và nhiều nơi khác.

Đồng nghiệp văn chương nhiệt tình đón tiếp, còn đồng ngành công an với trưởng đoàn, vừa là đồng hương Quảng Bình thì không muốn xa đoàn. Hết nhà hàng “ Huyền Thoại” đến nhà hàng “ A Tỷ” là những nhà hàng có tiếng ở Buôn Mê Thuột, chúng tôi đều phải đến theo lời mời của Phạm Hữu Nhạc và mấy trưởng phòng của công an tỉnh, còn có thêm mấy em xinh đẹp như cô giáo Thảo người Ba Đồn mới ngoài tuổi 30 đã là trưởng của một phòng của Sở Giáo dục – đào tạo, cô giáo Thi người Hà Tĩnh, cô giáo Ánh người Thanh Hóa luôn vui nhộn, không cho không khí vui vẻ lắng xuống. Lần nào cũng ngất ngây. Lần nào cũng vui nhộn với những ca khúc ngợi ca quê hương, ngợi ca cao nguyên trữ tình và bốc lửa. Tất cả khách trong nhà hàng đều hướng về chúng tôi…

Đúng là “ Ánh mắt ấy, tiếng hát ấy thương thương hoài…Ta yêu nhau thì về Buôn Mê Thuôt. Còn yêu nhau…” sẽ còn “ về Buôn Mê Thuột…” như lời trong bài hát “ Còn yêu nhau” của Nguyễn Cường.

Chuyến đi quá bổ ích. Tình người khó dứt. Chúng tôi sẽ còn trở lại với Tây nguyên. Kết thúc một chuyến đi, chúng tôi về đên Đồng Hới đúng vào ngày mười ba âm lịch, nhưng tất cả đều bình an…

 

                                                                   Tháng 9 năm 2015

                                                                               K.C

                         Kim Cương: Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình

 

                                                    Đt: 0916897726 - 01668882269

 

 

 

( Bài Tết)

 

                                             Quê hương ơi!...

 

                                                                                         Kim Cương

 

          Đành rằng, dù đi khắp bốn phương trời, dù có được tận hưởng cuộc sống sung sướng và oai phong đến nhường nào, ai rồi cũng luôn nhớ về quê hương. Hai tiếng  “quê hương” sao mà sâu đậm và da diết trong lòng. Đừng lắm lời, đừng ngoa ngữ ví von, đừng gán ghép quê hương với bất cứ một thứ gì, quê hương là quê hương, là nơi nuôi sống tổ tiên ta để cho ta hôm nay. Quê hương không chỉ là “chùm khế ngọt cho ta trèo hái mỗi ngày”! Quê hương là tất cả, là khoai, là sắn, là lúa, là hoa, là những giếng làng trong vắt và mát ngọt. là những cánh đồng mênh mông xanh mướt một màu lúa thì con gái và vàng sáng trải rộng khi bông chín mùa về. là những đàn trâu em chăn ngồi trên lưng thổi sáo vang vọng khắp nơi…Quê hương là nơi ông bà ta và ta đã trải qua bao khổ cực để xây dựng đời mới, cho ta hưởng đủ hương vị: mặn, ngọt, chua, cay và cả vị đắng nữa, để cho ta vững vàng và kiên định vượt qua bao thử thách khó khăn, không ngừng vươn lên theo ước vọng cao đẹp…

          Cứ mỗi Tết cổ truyền về, lòng tôi càng da diết nhớ về quê. Nhớ những ngày giáp Tết ngồi xem cha tôi gói bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng hình vuông. Bánh tét hình trụ. Dân quê tôi thường gói bánh bằng gạo nép thơm hoặc nếp cau. Tôi đã từng thưởng thức nhiều loại nếp của nhiều miền khác nhau, nhưng chưa thấy loại nếp nào bằng nếp thơm quê tôi. Nếp hạt to, trắng như chưa có màu trắng nào hơn. Một nhà nấu xôi nếp thơm cả xóm đều biết. Nếp xôi lên rất thơm. Phảng phất khắp nơi, len lỏi vào từng hơi thở của con người. Người đi ngoài đường ngữi phải là thèm! Còn loại nếp cái quê tôi không thơm lắm nhưng dẻo chẳng có nếp nào bằng. Ăn xôi nếp cái khó mà nhấc răng. Mọi nhà đều dùng nếp cái để làm cốm. Một hạt cốm dẹt nếp cái giả ra to bằng đồng tiền một xu thời xưa mẹ thường dùng mua bánh đúc, bánh đa cho chúng tôi. Cốm nếp cái chấy phồng to lên, trộn đường bánh thái mịn rồi dùng hai tay vo tròn thành bánh cốm, ăn vừa ngọt vừa bùi, vừa giòn không biết chán. Những hạt lép của nếp cái được rang lên, giả ra thành bột, trộn đường, lấy chén nhỏ làm khuôn, làm thành bánh xà lam. Cha tôi gói bánh sành lắm, gói vừa nhanh, vừa đẹp. Bao giờ cha tôi cùng dành lại ít gạo và nhân gói cho anh em chúng tôi mỗi người một cái bánh tét nhỏ bằng cổ tay, có quai xách rất dễ thương. Trong lúc nấu bánh, cha tôi chuyển sang làm bánh khảo hình vuông, bánh in hình tròn, vừa làm vừa hấp cách thủy trên nồi bánh đang sôi sùng sục. Chẳng biết cha tôi mua cái khuôn bánh in từ lúc nào và mua ở đâu, mà quá tuyệt tác. Các nhà làm khuôn phải là những nghệ nhân tài giỏi. Theo hình đã được chạm trổ trong khuôn, chiếc bánh in ra xung quanh sóng lượn, trên mặt có cả rồng phượng bay lượn, mang cả những nét hoa văn đậm đà tính dân tộc.

          Quê hương cứ hiển hiện rõ nét hơn trong những ngày Tết. Giờ tuy ở xa quê, tôi vẫn giữ được cái truyền thống gói và nấu bánh chưng. Các con tôi cũng ngồi quanh tôi, cũng học tôi gói bánh. Tuy cái giống lúa nếp thơm, nếp cái như ở quê tôi đã rất nhiều năm nay tôi cố tìm kiếm, nhưng chỉ là sự luyến tiếc. Nhìn những chiếc bánh, những hạt gạo trắng thơm,lòng cứ xao xuyến. Những cánh đồng Cựa, bàu Cầu, bàu Đồng, bàu Sen, đồng Ngoài, đồng Trưa, Phục Khái, Giêng Giếng. Choàng…vàng rực hàng triệu triệu bông lúa trĩu hạt với đủ giống lúa như những thảm vàng bao quanh làng cứ hiện lên trước mắt tôi. Cứ hiện lên những ông, những bà, những cô, dì, chú, bác, những anh chị và những em thiếu niên tuổi nhỏ làm việc nhỏ cần cù, chịu khó chăm cho đất quê mình thêm màu mỡ, chắt chiu từ trong đất và trong từng giọt mồ hôi, chắt chiu từ trong xương máu đã đổ, từ trong bom đạn và lửa khói chiến tranh… cho lúa tốt nặng hạt trĩu bông, cho khoai sắn nậy ( to) củ…để trở thành hợp tác xã nông nghiệp được tuyên dương “ Đơn vị anh hùng lao động” đầu tiên ở miền Bắc. Anh hùng từ trong đỉnh cao ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ.

          Từ hạt gạo, củ khoai, củ sắn, từ lá rau má, rau tàu bay, từ những cánh đồng tôi thường bẫy chim, đơm cá, thả lươn…đã nuôi tôi khôn lớn, cho tôi thành người và cho tôi lòng tự hào và hãnh diện.

Tìm khắp trên đất nước này, có lẽ hiếm nơi như quê tôi. Thời chống thực dân Pháp xâm lược, kẻ thù đã chọn làng tôi làm điểm tựa tấn công lên vùng chiến khu của tỉnh và huyện. Để lấy được điểm tựa quan trọng này, bọn giặc đã 25 lần xua quân mang đủ các loại vũ khí, tiến đánh tưởng dễ dàng " ăn sống nuốt tươi" Cự Nẫm, nhưng cả 25 lần đều thất bại thảm hại, tức hộc cả máu tươi. Từ Đồng Hới, tên quan năm đã gửi cho tên quan ba Su-séc-tơ chỉ huy ở Hoàn Lão một bức thư nặng lời hậm hực và cay đắng: " Tôi rất lấy làm xấu hổ cho ngài, cho danh dự của một sĩ quan quân đội đại Pháp, khi nghe tin một nhúm dân quê mọi rợ đã đánh gãy cánh quân do ngài chỉ huy. Phải chăng đó là một thử thách đối với tài thao lược của ngài?...Nếu ngày mai số phận hẩm hiu vẫn đến với binh sĩ và cái làng Cự Nẫm ấy vẫn không bị dẫm nát dưới gót dày của đội quân viễn chinh Pháp, thì tôi tin rằng, vâng, tôi tin thế, lịch sử của ngài-  một sĩ quan đã lừng danh ở châu Phi sẽ ghi thêm một vết nhơ không bao giờ rữa sạch!...". Quê tôi nổi tiếng khắp cả nước với cái danh “ Cự Nẫm oai hùng”, trở thành điển hình cho các địa phương khác học tập. Thời chống Mỹ, quê tôi là “ làng mặt trận”, “ làng một đêm”, làng nối liền hậu phương với tiền tuyến. Binh trạm giao liên đóng ở làng tôi, mà trung tâm là khu vườn nhà của tôi. Quân vào Nam, ra Bắc đều qua và nghĩ lại một đêm ở quê tôi và nhận mọi thứ quân trang, lương thực, thực phẩm ở kho đóng ngay trong vườn nhà tôi, mà mẹ tôi là người cùng chú Chớ, chị Vân, chị Hoa…của Binh trạm canh giữ và phục vụ. “ Đêm nằm bằng năm ở”. Một đêm nghĩ lại ở Cự Nẫm và cũng đã có rất nhiều đoàn quân được cùng quê tôi ăn Tết cổ truyền, rồi ngày mai theo đường Trường Sơn vào Nam đánh giặc, hoặc ra Bắc điều dưỡng đã tăng thêm sinh khí cho bao đoàn quân trước tình thương, sự ân cần chăm sóc của dân quê tôi, để lại cho hàng vạn lượt người lính bao kỷ niệm sâu sắc. Với nghĩa tình sâu nặng ấy, sau chiến tranh đã trở về thăm nơi mình đã ngủ một đêm. Người mà dân quê tôi nhớ và nhắc đến nhiều là ông Đinh Thế Huynh. Xưa ông là lính từng qua và ở lại quê tôi, nay đang là Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương. Việc nước bận rộn, ông vẫn tranh thủ về thăm, động viên và tặng quà cho quê tôi. Mới đây thôi nhân vào dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ 16 ( tháng 10-2015), ông đã về tặng màn hình cỡ lớn để trang bị cho nhà văn hóa xã mà ông từng góp công xây dựng và tặng 10 máy vi tính. Của ít nhưng lòng tốt quá nhiều, dân quê tôi rất cảm động. Giá như…tùy lòng thôi. Người quê tôi rất kiên cường, nhân ái và rộng lòng lắm! Trong lúc các xã trong tỉnh đều mang nhánh họ “Quảng”, “ Hóa”, “ Trạch”, “ Ninh”, “Thủy”(*), thì Cự Nẫm vẫn một mình mang tên xã Cự Nẫm. Một mình nhưng không bao giờ đơn độc, bao giờ cũng được cả tỉnh, cả nước cảm phục yêu thương, kiên cường tiến công, trở thành xã ba lần được tuyên dương “ Đơn vị anh hùng”…

Tết này, mấy cha con tôi lại cùng nhau ngồi gói bánh. Bánh chưng gói từ gạo nếp quê tôi mang vào, như gói trọn tình quê vào để dâng ông bà, tổ tiên, để chào một năm mới đầy hứa hẹn. Những hạt gạo thấm đẫm tình đất, tình người quê hương, rồi sẽ trở thành những chiếc bánh thơm, dẽo đễ bạn bè và những người Đồng Hới quanh tôi thưởng thức, níu giữ tình quê, tình người bền vững…

 

                                

                                            Kim Cương: Hội văn học nghệ thuật QB

                                                                     Đt: 0916897726

                                                                                     

 

(*): Huyện Quảng Trach đều mang chữ Quảng đầu, huyện Tuyên hóa và Minh Hóa đều mang chữ Hóa sau, huyện Bố Trạch đều mang chữ Trạch sau…. 

 

 

 

                                                     VỀ ĐƯỜNG 9 – KHE SANH

                                     

                Bút ký của Kim Cương

 

Thời ấy đang là đỉnh cao trong cuộc leo thang tội ác đánh phá miền Bắc của giặc Mỹ. Đạn bom địch đánh xuống tới tấp,dồn dập nổ ầm ầm bên tai tìm cách hủy diệt sự sống. Cái chết rình rập quanh mình, nhưng người trên đất lửa Quảng Bình, người cả nước vẫn khinh thường cái chết, vẫn hiên ngang, kiên cường đánh Mỹ và thắng Mỹ oanh liệt.  

 Đó là năm 1968 của thế kỷ XX, cũng là cái thời điểm vang rền chiến thắng Đường 9 – Khe Sanh. Cứ mỗi lần loa truyền thanh của xã mở ra là “ Bài ca Đường 9 chiến thắng” của nhạc sĩ Vân Dung vang lên: “ Em nghe tin vui bên Đông Trường Sơn – Em nghe tin vui bên Tây Trường Sơn- Nghe sấm dội cả non ngàn- Nghe bão nổi cả đôi miền- Anh giải phóng quân hôm nay ra đi- Mang lửa hờn căm bao năm nấu nung – Anh qua Tân Lâm chôn vùi Mỹ ngụy- Bão thép căm hờn dội lửa Sa Mưu- Đồi Năm trăm kèn vang chiến thắng rền trời- Khe Sanh quân ta reo hò – Khe Sanh năm xưa anh đã về đây- Non sông nơi nơi dâng lên niềm vui - Nghe pháo nổ rền vang trời- Bao bốt đồn giặc tơi bời…” cứ rạo rực lòng người. Cái rạo rực ấy cứ tiếp nối theo những ca khúc ngợi ca chiến thắng của quân ta ở Đường 9 – Khe Sanh của nhiều nhạc sĩ  liên tiếp truyền vang trên đài và loa phóng thanh. Nhạc sĩ Lê Lan có “ Đường về Khe Sanh” mang tính hài hước vui nhộn và viết tiếp ca khúc “ Tiểu đội ta đạt ba danh hiệu”. Sáng tác xong ca khúc “ Giải phóng quân ta ra đi”, nhạc sĩ Vân Dung viết tiếp “ Tiến về Khe Sanh”. Rồi “ Tiếng đàn ta lư” và “ Cô gái Pa Kô đi tải đạn” của nhạc sĩ Huy Thục, “ Kèn chiến thắng gọi ta đi” của Tân Huyền, “ Nghe tiếng pháo Khe Sanh” của Đức Nhuận, “ Bài ca Đường 9” của Huy Du, “ Rừng xanh vang tiếng ta lư” của Phương Nam… cứ vang lên, không dứt, lôi kéo lòng người. “ Ai đã tới miền quê em Quảng Trị - Thừa Thiên – Qua Đường 9 tình Gio Linh lắng trong giọng hò – Mừng vui nghe tin thắng trận – Sông Ba Lòng bay bổng lời ca…”, “ Tiếng hát trên đường quê hương” của Huy Thục, nghe sao mà vui, mà lạc quan quá chừng.Niềm vui trào dâng, thúc dục người người vào trận tiến công và chiến thắng địch.

Đó cũng là năm giặc Mỹ đã ném bom xuống, giết hại người cha kính yêu của tôi ngay tại nhà. Người anh cả của tôi đang chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Tôi mới là một cậu học sinh cấp ba trường huyện, ngồi học trong căn nhà hầm, trong hầm chữ A, bên ngọn đèn dầu leo lét đặt trong một đoạn vỏ đạn rốc két chỉ lộ ánh sáng qua một lổ nhỏ bằng ngón tay cái, soi đủ để đọc được vài chữ. Nghe tin thắng trận, nghe những bài Đường 9 – Khe Sanh, tôi cứ muốn nhảy lên khỏi hầm, rẽ đạn bom thù, lao vào chiến trường cùng bộ đội đánh giặc, để cứu nước, để trả thù cho cha. Thời đất nước bị kẻ thù xâm lược, người Việt ai mà chẳng có tinh thần như vậy! Tinh thần của “ 31 triệu dân – Tất cả hành quân – Tất cả thành chiến sĩ…” cứ hừng hực trong người. Ngoài trách nhiệm chung, tình yêu nước. tất cả vì miền Nam thân yêu, người Quảng Bình – người của “Bình Trị Thiên khói lửa” còn mang nặng tình cảm “ Vì Trị - Thiên ruột thịt”. Nghe nói quân và dân miền Nam, quân và dân Quảng Trị thắng lớn là mừng lắm. Mừng mà cứ muốn ào vô để chúc mừng, để chung sức quét sạch quân Mỹ - ngụy.

Thời gian cứ trôi đi, nhưng những chiến công của quân ta ở Đường 9 – Khe Sanh, nơi mà kẻ thù gọi là “ Khe tử” cứ lưu truyền mãi trong tâm trí, trong những trang lịch sử nhân loại. Đến như Brack Obama – vị Tồng thống nổi tiếng của nước Mỹ, đã bị dư chấn nặng, khi lên đọc diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ đầu vào đầu năm 2009 vẫn nhắc đến Khe Sanh – một thung lũng ở tỉnh Quảng Trị, ở bên Đường 9, cách biên giới Việt – Lào chừng 10 km, gây nên bao nỗi kinh hoàng cho lính Mỹ thời chiến tranh. 41 năm đã trôi qua mà vẫn chưa hết nỗi kinh hoàng, vẫn giật mình mỗi lần nghĩ lại!

Với tôi, đã gần một nửa thế kỷ luôn mong muốn có dịp đến tận những nơi đã tạo nên những kỳ tích trong thời ấy, nhưng còn là chuyện khó. Cái khó trong bao điều kiện khách quan cứ bó chưa ló ra được cái khôn. Miền Nam mới hoàn toàn giải phóng, đất nước hòa bình thống nhất, theo sự ủy nhiệm của Bộ Công an, Ty Công an Quảng Bình đã cử tôi và một số anh em vào Trị - Thiên, có lên vùng miền núi hướng Hóa về một số xã xây dựng thành tích, đế đề nghị tuyên dương danh hiệu “ Đơn vị anh hùng” và anh hùng lực lượng vũ trang đợt đầu tiên ở miền Nam. Mới nhập tỉnh, tôi còn được cùng anh Lê Xuân Bữu, bấy giờ là Trưởng phòng Công tác chính trị Ty Công an Bình Trị Thiên, du thuyền lên tận các chiến khu xưa vùng Ba Lòng, nhưng những chuyến đi bó hẹp như thế, chỉ làm cho mình cảm thấy thiếu hụt những gì mình cần biết, chưa đủ chất xúc tác để tạo nên tác phẩm. Thời sống chung tỉnh Bình Trị Thiên, đã mấy lần mang hàm thượng úy, cùng anh em là sĩ quan trung cấp và đồng đội ngồi trên xe Gát lên đường 9, lên vùng Hường Hóa. Đường hồi ấy xấu không tưởng nổi. Đường đá sỏi, eo hẹp, quanh co, lượn trên bao núi cao hơn ngàn mét, vực thắm, lại bị chiến tranh tàn phá liên tục, chưa khôi phục được. Ngồi trên xe tải còn khổ gấp ngàn lần những vị khách ngồi trong “Chuyến xe bão táp” từng thấy trong phim. Những chuyến đi vất vã ấy chưa nằm trong khái niệm “ Về địa chỉ đỏ” hay “ Trở lại chiến trường xưa”. Cái khổ cực đang bao quanh người, tưởng nhớ và mong muốn chỉ để vào tâm, còn là chuyện đi tham quan thì khó nói. Thực sự chúng tôi và rất nhiều cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức trong tỉnh đang cố “ gánh cực mà đổ lên non”. Tất cả đang tranh thủ mọi thời gian kéo nhau lên núi cao và vắt mình bên những vực thẳm, chặt hoa đót về phơi khô nhập cho ngoại thương để kiếm tiền. Hết chặt hoa đót lại khai hoang trồng sắn, trồng khoai…Làm tất bật, đưa thân ra cho muỗi đốt, vắt hút máu, mệt ê cả người…nhưng “ cực còn chạy theo”! Vùng miền núi rẽo cao Hướng hóa bấy giờ còn xơ xác sau chiến tranh, giữa một vùng hoang vu, mặt đất ken dày hố bom và đạn bom chưa nổ, núi rừng trơ trụi do ảnh hưởng của chất độc hóa học. Dân cư thưa thớt với cuộc sống nghèo nàn và lạc hậu, đói khổ quanh năm. Nằm trong vùng chiến sự được gọi là “đặc biệt” với bao hậu quả chiến tranh nặng nề, Khe Sanh còn khổ hơn nhiều…

                                                          *

                                                       *      *

Mãi gần 47 năm sau, mới đây thôi, nhân kỷ niệm 71 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, một đoàn văn nghệ sĩ là những người một thời làm lính Cụ Hồ, được Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình tổ chức đi thăm lại chiến trường xưa. Điểm đến là Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Đường 9 – Khe Sanh và Thành cổ Quảng Trị. Anh chị em đều là lính một thời trực tiếp chiến đấu đánh quân thù và đang tự nguyện suốt đời làm người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ, rất tự trọng, rất nhân văn. Trưởng đoàn chỉ tuyên bố một câu “ Khi lên xe là cùng một hướng!” Xe lăn bánh. Thành phố hoa hồng sau mấy ngày mưa và rét đậm đã hửng nắng, tăng nhiệt độ, sởi ấm cho đoàn chúng tôi “ hướng về Nam”.

Cả xe là cả một kho chuyện lưu động. Chuyện cười, chuyện thời sự, chuyện văn, chuyện đời và những ký ức về đồng đội, của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong thời mặc áo lính cứ tuôn ra không ngớt, chỉ đến khi lái xe Tuấn cho xe dừng lại, mới biết mình đã đến điểm đến. Nơi đầu tiên đoàn chúng tôi đến là Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. Về lại chiến trường xưa, không thể không đến với các anh, các chị đang yên nghĩ nơi đây. Cả đoàn tập họp thành hai hàng ngang, nghiêm trang hướng về Đài tưởng niệm. Trưởng đoàn ngậm ngùi đọc:

“ Với tấm lòng tôn kính và tiếc thương đồng chí đồng đội, chúng tôi là những văn nghệ sĩ một thời cùng các anh các chị cầm súng đánh giặc, một thời làm lính Cụ Hồ, lính của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bảo vệ nền tự do độc lập của dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, từ quê hương Quảng Bình đến đây kính cẩn dâng lên những nén hương thơm, bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn và hết sức cảm phục sự hy sinh anh dũng của các anh các chị.

          Được sống trong cuộc sống đất nước hòa bình thống nhất và độc lập, tự do, có được cuộc sống ấm no và hạnh phúc như hôm nay, cả dân tộc ta, Tổ quốc ta, non sông ta nói chung, trong đó có cả những văn nghệ sĩ Quảng Bình chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ. Sự hy sinh oanh liệt của các anh các chị đã tô thêm trang sử vẻ vang của dân tộc rạng rở và chói lọi, trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng sáng ngời, cho muôn đời mai sau noi theo…”

          Tất cả dâng hương, hoa lên Đài tưởng niệm. Tất cả lại tỏa ra dâng hương trên từng phần mộ. Các nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngọc Bội, Văn Báu, Bách Chiến, Bùi Cường…mỗi người một góc độ, chọn cảnh bấm máy lia lịa. Các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thế Tường, Nguyễn Xuân Sùng, Lý Hoài Xuân, Trác Diễm, Trần Hải Sâm, Trần Thu Huề, Hoàng Hải Vương, Hoàng Minh Sơn, Hoàng Minh Đức, Hoàng Minh Giót, Đoàn Công Sơn, Lê Tiền Xuân, Nguyễn Hữu Trường, Phan Văn Chương và các họa sĩ Văn Đắc, Quang Hiếu, Văn Phố, Vũ Xuân trường…bùi ngùi suy tư, như đang nghĩ những tứ thơ, những đoạn văn, những bức tranh mới. Nhìn mộ các anh hùng liệt sĩ san sát bên nhau, tôi lại nhớ bài thơ “ Khát vọng Trường Sơn” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý – người cùng quê, cùng trong một lò tổng hợp văn năm xưa. “ Nằm kề bên nhau – Những nấm mộ giống nhau – Mười nghìn bát hương – Mười nghìn ngôi sao sáng…”. Ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ nhất của chúng tôi mỗi lần đến thăm viếng ở Nghĩa trang liệt sĩ của cả nước này, chính là ấn tượng về số lượng. Mười ngàn, hay một trăm ngàn ở đây dường như không còn khác gì nhau. Nói như nhà thơ V.Xưmborxa của Ba Lan, đoạt giải noben: “ Những con số lớn thường gây cho ta cảm giác mơ hồ, khó nắm bắt và mất phương hướng…”. Con số 10.000 nấm mộ dường như đã vượt quá sức hình dung của những bộ não bình thường. Chỉ thấy chập chùng những nấm mộ giống hệt nhau, nằm san sát và bạt ngàn khắp các triền đồi miên man, bất tận. Tất cả là bạt ngàn, là vô tận trong mắt, trong lòng người đến viếng. “ Mười nghìn tấm bia, còn mười nghìn nữa – Mười nghìn đồng đội nằm rải Trường Sơn – Mười nghìn hài cốt chưa về khói hương – Mười nghìn đơn côi nằm trong cõi vắng – Mười nghìn cô quạnh lang thang nẻo rừng…- Mười nghìn khát vọng được kề bên nhau”. Lời kết nghe sao mà nhẹ nhàng, giản dị, tưởng như không có sự giản dị nào hơn, vẫn biết rằng đó là sự đa cảm và nhạy cảm của nhà thơ, sự thấu hiểu của tấm lòng đồng đội và đồng điệu của Nguyễn Hữu Quý, nhưng nghe ngậm ngùi và se buồn. Những con người đã sống bên nhau trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc đời, đã chia nhau một vùng ánh sáng của lý tưởng cao đẹp, chia nhau sự sống, chia nhau cái chết, thì không còn lý do gì và sức mạnh nào có thể chia rẽ được họ. Những linh hồn ấy còn khát vọng gì hơn là được ở bên nhau mãi mãi trong cõi vĩnh hằng. Đó là cuộc đoàn tụ của những người đã khuất, hòa trong cuộc đoàn tụ tâm linh bất diệt. Xin các anh, các chị yên nghỉ bên nhau. “Bằng cả tấm lòng tôn kính, gửi vào nén hương thơm dâng lên, cầu mong các anh hùng liệt sĩ sống  anh dũng kiên cường, thác linh thiêng, phù hộ độ trì cho Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình ngày càng phát triển lớn mạnh, phù hộ cho tất cả mọi gia đình của văn nghệ sĩ chúng tôi mãi ăn yên, ở yên, tai qua nạn khỏi, vận hạn giải trừ, sức khỏe dồi dào, vui vẻ,hạnh phúc, đắc danh đắc lộc đắc tài, điều tốt luôn đến, ách tai không còn, sáng tác được nhiều tác phẩm tốt phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân!

          Chúng tôi nguyện phát huy bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của người lính Cụ Hồ,vượt qua tất cả mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt trách nhiệm của người công dân Việt Nam trong thời kỳ mới!” Thay mặt tất cả các văn nghệ sĩ Quảng Bình tôi đã cầu khấn như vậy, mong sao vạn sự như ý!

                                                                   *

                                                                *       *

          Tạm biệt các anh hùng liệt sĩ ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, chúng tôi theo đường Tây tiến. Đường lên Khe Sanh, Lao Bảo giờ đây rộng thênh thang, được Btông nhựa một lớp dày đen bóng, xe chạy êm như ru. Thay vào sự hẻo lánh đáng sợ, với những ngôi nhà sàn bé nhỏ trong thế kỷ XX và sự nghèo kiệt dần của rừng, là sự hội tụ đông đúc, với hàng ngàn ngôi nhà kiên cố được xây dựng giữa những khu vườn sầm uất, tràn trề sức sống dày đặc hai bên đường. Những bải lau, bải đót ngày xưa giờ đây không còn, đã trở thành loại hoa hiếm cho những nhà nhiếp ảnh và những người thích chơi hoa. Xe ô tô, xe máy chạy tấp nập trên đường. Đường 9 – đường xuyên rừng rậm nâng từng chuyến xe và bước chân của hàng triệu lượt anh lính Cụ Hồ, che chở cho những đoàn quân ra trận, giờ đã trở thành đường Quốc lộ, như một dải lụa đẹp, rộng thênh thang, dài gần 85 cây số, lượn từ thành phố Đông Hà qua những làng quê nhà cửa dông đúc như phố lên tận cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, là một phần trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây dài 1.450Km liên kết 4 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan và Myanma. Cung đường huyết mạch trong các cuộc chiến tranh Việt Nam, đã nhanh chóng thành đường chiến lược kinh tế trên trường quốc tế.

          Chúng tôi đến Khe Sanh vào buổi trưa. Cái “ Khe tử” cách đây 47 năm đã sinh trưởng và lớn mạnh không tưởng nổi. Gọi là thị trấn, nhưng đã như là một phố núi giàu sang và đẹp, có đầy đủ các yếu tố của vùng đô thị. Nơi chúng tôi nghỉ lại là một khách sạn cao 6 tầng, có đầy đủ tiện nghi, có phục vụ ăn uống và cà fe. Lại gân khu vực Hội chợ, vui nhộn cả ngày đêm. Nhìn phố, nhìn những dòng người đi mua sắm, đi dạo, đi tập thể dục thể thao ở Trung tâm thể thao huyện, khó mà tin được mảnh đất này một thời là máu lửa, một thời dày đặc tiếng nổ kinh hoàng và dã man liên tục; một thời đã diễn ra một cuộc chiến quyết liệt trong hai đợt với tổng số 177 ngày đêm, giữa quân ta và phần lớn là quân Mỹ. Nếu như trận tiêu diệt tập đoàn cứ điểm quân Pháp ở thung lũng Điện Biên Phủ mang lại hòa bình cho miền Bắc Việt nam qua Hiệp định Giơ ne vơ, thì trận nghi binh chiến lược nhưng hết sức quyết liệt ở thung lũng Khe Sanh bắt đầu từ ngày 24 tháng 01 năm 1968 đã tạo điều kiện cho toàn miền Nam tổng tấn công nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968, dẫn tới nhóm họp của Hội nghị bốn bên tại Pari vào mùa Thu 1968.

          Lần theo từng trang sử vẻ vang của vùng đất thiêng này, ta càng thấy rõ hơn tầm quan trọng cả về vị trí địa lý, cả về tầm chiến thuật, chiến lược trong chiến tranh của cả hai bên. Theo “ Ô châu cận lục” của tiến sĩ Dương Văn An, năm 1553 đã thấy ghi rừng Viên Kiều, rừng Cao Tuyên ( tức Hướng Hóa ngày nay). Trong quá trình cai trị đất nước, triều đình Nhà Nguyễn đã chú ý đến Khe Sanh – một thung lũng hiểm hóc nằm ở vị trí trung tâm của huyện Hướng Hóa là một châu có 15 tổng. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Quảng Trị đã cắt 9 châu của huyện này nhập vào tỉnh Savannakhet của Lào. Hướng Hóa chỉ còn 9 tổng cho đến ngày nay. Vùng đất cổ này có nguồn gốc từ nguyên thủy, do hai dân tộc Vân kiều và Pa Cô sinh sống. Đến năm 1930, thực dân Pháp xây dựng con đường số 9 để khai thông hai tỉnh Savannakhet và Quảng Trị, lập đồn điền trông café và bơ trên đất bazan, đóng đồn bốt, dựng nhà tù Lao Bảo…Từ năm 1962. Mỹ - ngụy đã xây một căn cứ không quân – lục quân trên vùng đất này, có ý nghĩa chiến lược do nằm gần tuyến vận chuyển đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng. Cũng từ năm 1962, căn cứ này được lực lượng Mũ xanh ( Grin Berets) Mỹ sử dụng làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đi sâu vào vùng đất Lào. Vị trí chiến lược Khe Sanh đó đã gây nhiều trở ngại lớn cho sự chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam.

          Sau những thất bại thảm hại trong mùa khô 1965 – 1966. Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Robert McNamara đã nảy ý định thiết lập một phòng tuyến chống xâm nhập hiện đại nhất ở bờ Nam sông Bến Hải để ngăn chặn đối phương. Ý tưởng của McNamara đã được 47 nhà khoa học tài ba nhất nước Mỹ tổ chức nghiên cứu thực thi. Suốt ba tháng  vùi đầu nghiên cứu, hội đồng khoa học, dưới sự điều khiển của McNamara đã vạch ra một kế hoạch với tham vọng lớn là xây dựng một hệ thống hàng rào điện tử từ nam vĩ tuyến 17 đến đường 9 dìa 100km, rộng 20km chạy song song với sông Bến Hải từ biển Đông đến Sê Pôn (Lào), trong đó hành lang mặt bằng có bề ngang 500m sẽ được san phẳng; xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, cứ 2km có một tháp canh, cứ 4km có một căn cứ cở đại đội hoặc tiểu đoàn, có đủ hệ thống công sự, hầm, hào, lô cốt, hàng chục lớp hàng rào kẽm gai chằng chịt, xen nhiều lớp bom mìn với khoảng 25 triệu quả bom cỡ nhỏ và 20 triêu quả mìn đủ loại: mìn định hướng, mìn đĩa, mìn lá, mìn Claymore, mìn chiếu sáng, lựu đạn nổ tức thì…Phòng tuyến còn được trang bị phương tiện điện tử tối tân như “cây nhiệt đới”, “ máy thông minh”, “ máy phát hiện hơi người”…là các loại máy thu phát tiếng động tinh vi. Căn cứ Khe Sanh được xác định là trung tâm của hệ thống hàng rào điện tử, do đó Khe Sanh được Mỹ xây dựng một tập đoàn phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất của Mỹ ở địa đầu miền Nam Việt Nam, gồm các cứ điểm Làng Vây, Chi khu quân sự Hướng Hóa, sân bay Tà Cơn. Trước thềm năm mới – năm Mậu Thân ( 1968), tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam Wiliam Westmoreland quyết định “ thả mồi ngon” với chiến dịch Operation Scotland từ ngày 01 tháng 11 năm 1967 đến ngày 31 tháng 3 năm 1968, nhằm lừa quân địch vào bẫy, buộc tướng Giáp phải đánh theo cung cách quy ước vốn là sở trường của quân Mỹ. Được bộ sậu “ diều hâu” ở Mỹ và Sài Gòn tán thưởng, Tổng thống Johnson cho đắp sa bàn Khe Sanh ở nhà trắng và hàng ngày nghe “giao ban” về chiến sự ở đây. Khe Sanh được chúng kỳ vọng sẽ là “ nam châm cực mạnh” hút quân Bắc Việt, để Mỹ dùng ưu thế hỏa lực tiêu diệt trong một thế trận được gọi là “ Điện Biên Phủ đảo ngược”. Chúng đã dồn về đây trên 45.000 quân, trong đó có 28.000 quân Mỹ. Cả Nhà trắng, Lầu năm góc, Bộ chỉ huy viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn, lẫn Bộ chỉ huy tối cao Hoa Kỳ đều nhận thấy Khe Sanh có một thế mạnh căn bản so với không chỉ với Điện Biên Phủ, mà với mọi pháo đài từng có trong lịch sử, được hỗ trợ với hệ thống hỏa lực cực mạnh. Chế áp độc lập từ bên ngoài, gồm hàng chục lần chiếc pháo đài B52 đánh phá mỗi ngày, gồm yểm trợ đường không cự ly gần với lực lượng khoảng 2.000 máy bay chiến đấu khác của không quân chiến thuật, không lực của hải quân, không lực của thủy quân lục chiến, với tần suất 500 lần chiếc mỗi ngày, trở thành chiến dịch hỗ trợ hỏa lực đường không dày đặc nhất trong lịch sử chiến tranh! Tổng thông Johnson và Wasington đã nghĩ rằng Khe Sanh là một Điện Biên Phủ, thậm chí còn yêu cầu tướng Westmoreland phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ!

Cũng như ở Điện Biên Phủ, Pháp dựng lên để ngăn chặn Việt Minh tiến qua Thượng Lào.  Còn Mỹ lập Khe sanh để cản trở bộ đội Việt nam di chuyến trên đường Trường Sơn. Việc còn mất ở Khe Sanh có ý nghĩa quân sự quan trọng đối với cả đôi bên. Giữ được Khe Sanh, quân Mỹ có một căn cứ tiền phương tốt để thực hiện các cuộc hành quân tiến vào đánh phá đường Trường Sơn. Quân ta cần triệt phá Khe Sanh để tạo hành lang an toàn cho đường vận tải chiến lược và làm phá sản hàng rào điện tử McNamara.

Với quyết tâm “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định” như Nghị quyêt Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 ( khóa III) đã khẳng định, cuối năm 1967 Bộ chính trị quyết định mở chiến dịch tấn công với quy mô lớn đánh vào tuyến phòng ngự được gọi là vững chắc nhất của địch ở khu vực đường 9 – Khe Sanh. Chiến dịch đường 9 – Khe Sanh mở ra nhằm nghi binh, thu hút lực lượng chủ lực của địch, chủ yếu là quân cơ động Mỹ ra khu vực đường 9, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, vây hãm và giam chân tiêu hao chúng, phá vỡ một phần tuyến phòng thủ của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968. Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Trần Quý Hai làm tư lệnh và đồng chí Lê Quang Đạo làm chính ủy, chỉ huy 4 sư đoqàn bộ binh (304, 320, 325, 324), hai trung đòn 27 và 270, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, 5 trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204, 675), 3 trung đoàn pháo phòng không ( 128, 241, 282), một tiểu đoàn và 5 đại đội đặc công, một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn thông tin, một tiểu đoàn trinh sát, một tiểu đoàn hóa học, một trung đoàn và hai tiểu đoàn công binh, một đại đội súng phun lửa và bộ đội địa phương của các huyện…Ngày 20 tháng 1 năm 1968, trước Tết Mậu Thân 10 ngày quân ta bắt đầu nổ súng đánh vào Khe Sanh, nhanh chóng chiến quận lỵ Hướng Hóa, tiếp tục tiến công địch ở các cao điểm 845, 950, án ngự phía Tây Bắc sân bay Tà cơn, bao vây Tà Cơn, Làng Vây, đưa quân xuống thuyền cắt đứt tuyến vận tải của địch từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà bằng chiến thắng “ Bạch Đằng trên sông Hiếu” cuối t5hangs 2 năm 1968. Từ trận mở màn đầy thắng lợi, đến giữa tháng 7 năm 1968, quân ta tiếp tục mở thêm 3 đợt tiến công, đánh địch rút chạy khỏi Khe Sanh, loại khỏi vòng chiến đấu 11.900 quân địch, bắn rơi 197 máy bay, đánh chìm 80 tàu vận tải, phá 78 xe, 46 khẩu pháo…giải phóng khu vực đường số 9 và huyện Hướng Hóa, với gần 10.000 dân, mở thông hành lang tuyến đường vận tải chiến lược Bắc Nam chi viện chiến trường miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân trên toàn chiến trường miền Nam, trước hết là Thừa Thiên – Huế và Sài Gòn tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận vào bàn hội đàm ở Pari…Lại một lần nữa Việt Nam lại giành thắng lợi rực rỡ trong chiến dịch “ Điện Biên Phủ”. Nước Mỹ mất hết danh dự, để rồi sau đó Westmoreland phải ngậm ngùi nuốt cay viết: “…những hậu quả đó có thể là: một thảm họa chính trị”.

                                                *

                                            *       *

Buổi chiều, trời se lạnh, nhưng ai cũng muốn đến tận nơi đã làm nên những trận thắng vang dội năm xưa. Cả đoàn chúng tôi đến Làng Vây. Nơi đây, cả một vùng cây cối đã tốt tươi với sức sống mới, chỉ còn lại một chiếc xe tăng của quân ta, được đặt trang trọng trên một bệ xây bằng xi măng, với một bảng vàng ghi: “ Nơi đây, ngày 06 tháng 02 năm 1968, tiểu đoàn xe tăng PT76 của Binh chủng tăng thiết giáp đã phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực và quân dân địa phương đồng loạt nổ súng tiến công tiêu diệt hòa toàn cứ điểm Làng Vây của địch. Đây là trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đầu tiên có xe tăng tham gia của quân đội ta, mở đầu truyền thống đã ra quân là đánh thắng của bộ đội tăng thiết giáp. Chiến thắng Làng Vây đã phá vở vị trí then chốt trên tuyến phòng ngự đường 9 – Khe Sanh của Mỹ - ngụy, góp phần chiến thắng Khe sanh, giải phóng huyện Hướng Hóa – Quảng trị…”. Nhìn chiếc xe tăng, đọc xong những dòng chữ vàng, ngoái sang nhìn nhà thơ Lý Hoài Xuân, đôi mắt nhà văn Nguyễn Thế Tường bỗng ứa lệ. Có lẽ người lính tăng thiết giáp năm xưa từng ra trận đánh giặc đang quá cảm động, đang nhớ lại những kỷ niệm xưa, đang thương nhớ đồng đội, thương nhớ những chiếc xe đã từng cùng mình xông trận. Anh đã từng lái xe tăng đánh trận ở Cửa Việt và bị thương, được anh Nguyễn Quốc Duẫn, lính Sư đoàn 325 thời ấy, nay là nhà thơ Lý Hoài Xuân khiêng ra khỏi vòng nguy hiểm và đưa đi cấp cứu. Lúc ấy chưa quen biết nhau, mãi mấy chục năm sau, ngồi kể lại trận đánh ấy, họ mới nhận ra nhau. Tất cả bao sự tự hào, bao nổi biết ơn và nhớ nhung…cứ tràn về nhà văn. Anh cứ lặng nhìn chiếc xe tăng là một trong 9 chiếc xe tăng của Đại đội 3, tiến công vào Làng Vây lúc 23h25 phút ngày 06 tháng 02 năm 1968, chiến đấu quyết liệt với địch gần 4 giờ đồng hồ và làm chủ trận địa, đem lại chiến thắng vẻ vang, góp phần phá vỡ một mảng lớn tuyến phòng thủ đường 9 của Mỹ - ngụy, mở thông đường 9 – Khe Sanh…

Phần đông văn nghệ sĩ đi trong đoàn từng là lính tham gia đánh trận ở vùng Quảng Trị. ở vùng biên giới Việt Lào, kỷ niệm ở chiến trường xưa cứ đầy ắp trong người. Chuyện cứ tuôn ra trên xe không ngớt, nhưng ai cũng không khỏi giật mình trước những kỳ tích ở điểm đến. Vào Tà Cơn, nhìn những xác máy bay đủ loại, được gọi là hiện đại trong cuộc chiến của Mỹ, trên nền sân bay rộng trên 10.000m2, từng được bảo vệ với một hệ thống phòng thủ tầm gân, tầm xa dày đặc; được xem các hiện vật, các hình ảnh và đọc những bảng vàng càng không hiểu nổi chiến lược, chiến thuật, tinh thần và chiến thắng của quân ta trong chiến dịch đường 9 – Khe Sanh năm 1968 và cuộc tiến công chiến lược đập tan cuộc hành quân “ Lam Sơn 719” của Mỹ ngụy chỉ trong 5 ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1972, kết thúc vị trí và vai trò của các căn cứ quân sự cùng với những tham vọng ngông cuồng của quân đội Mỹ, giải phóng Quảng Trị. “ Chỉ có quân và dân Việt Nam mới làm nên những điều kỳ diệu như thế!”. Tất cả anh em trong đoàn chúng tôi đều khẳng định như vậy! Và tất cả lại hát vang bài ca năm xưa: “ Khe Sanh năm xưa anh đã về đây – Non sông nơi nơi dâng lên niềm vui…”, “ Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị - Vẫn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta…”

Cả đất trời và loài người đã rạo rực bước vào thềm Xuân mới. Đến với vùng đất có đường 9 – Khe sanh anh hùng hôm nay, lòng chúng tôi rạo rực bao niềm vui. Mai vàng trong vườn các gia đình ven đường đã nở. Nhiều loài hoa cũng đua nhau khoe sắc, dâng hương, giữa màu xanh đầy hy vọng, giữa những vườn cây đầy hoa trái, với bao đổi thay nhanh chóng của vùng đất Hướng Hóa, của phố núi Khe sanh – Lao Bảo. Con người của vùng dân tộc Vân kiều và Pa cô – con cháu Bác Hồ nay cũng khác xưa. Ai cũng mặc đẹp. Lớp thanh niên, thiếu nữ còn ăn diện sành điệu hơn cả vùng đô thị. Nét mặt ai cũng rạng rỡ, vui vẽ, cười tươi. Cuộc sống của vùng cao này đã tốt gấp ngàn lần xưa. Năm 2015 – năm có nhiều biến động hết sức phức tạp trên trường quốc tế, thời tiết khắc nghiệt, cũng là năm nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam ta quá nhiều khó khăn, nhưng qua tìm hiểu, tôi lại biết rằng: huyện Hướng Hóa vẫn vượt các chỉ tiêu cơ bản đề ra, với tổng giá trị sản xuất đạt 5.660 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 21 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm gần 3%, 100% xã và thị trấn đều có trạm y tế và bác sĩ…Chỉ với những con số đó, cũng đủ thấy sức bật, sức vươn lên mãnh liệt và niềm vui của người Hướng Hóa.

Vừng đông đã hửng sáng. Tiếng loa phóng thanh đâu đó đang vọng về: “ Nghe em mùa Xuân đến rồi đó – Xúc động lòng ta trước cuộc đời – Qua bao nhiêu đau thương thêm mùa vui…”. Và, rất vui, vui nhiều với Hướng Hóa vào Xuân!...

 

                                                                       Tháng 12 năm 2015

                                                                                          K.C

 

                                               

          Địa chỉ: Kim Cương

                            Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình

                            Đt: 0916 897 726 – 0166 888 2269