Lâm Thị Mỹ Dạ người con của quê hương Lệ Thủy trên thi đàn Việt Nam & Thế giới...
Tiểu sử
Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại quê: huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình cha là người gốc Hoa, mẹ người Huế. Bà làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn Nguyễn Du. Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế). Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn VN ủy viên Ban Chấp hành Hộ Nhà văn NV khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn VN khóa V. Hiện bà đang sống tại thành phố Huế tỉnh Thừ Thiên Huế. Chồng bà, HoàngPhủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt Nam
Tác phẩm chính
- Trái tim sinh nở (thơ, 1974)
- Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)
- Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)
- Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)
- Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)
- Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
- Mẹ và con (thơ, 1994)
- Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)
- Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)
Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình được Nhà xuất bản Curbstone[1] dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005
Thành tựu nghệ thuật
Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hồ Thế Hà đã viết: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ. Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ. Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng.". Nhà thơ Ngô Văn Phú cũng nhận định: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính." [2]. Những bài thơ Truyện cổ nước mình, Khoảng trời - hố bom của bà được giảng dạy trong chương trình Tiếng Việt văn học phổ thông của Việt Nam
Thông tin thêm
Cha Lâm Thị Mỹ Dạ, ông Lâm Thanh đã từng tham gia Việt Minh và đến năm 1949 vàoíài Gòn sinh sống, năm 1954, ông định đưa cả gia đình vào đây nhưng vợ ông, bà Lý Thị Đấu không thể mang Lâm Thị Mỹ Dạ đi theo được vì phải chăm sóc mẹ già và em gái. Mặc dù sau khi đất nước thống nhất ông đã được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có công với cách mạng trong thời gian sinh sống ở Sài Gòn nhưng trong suốt thời gian trước đó, ở quê ông bị cho là "theo địch vào Nam". Mẹ Lâm Thị Mỹ Dạ đã từng học tiểu học bằng tiếng Pháp, thời còn trẻ đã từng bán hàng cho các đồn lính Pháp nên khi cải cách ruộng đất bà bị quy là do "địch cài lại" và bị đấu tố. Cộng thêm với việc ông nội là đại địa chủ nên trong những năm tuổi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ sống trong nghi kỵ, xa lánh của bạn bè, người quen. Mặc dù đã học xong cấp III nhưng bà không được học tiếp bậc cao hơn do vấn đề lý lịch [3]
Chú thích
1. ^ Một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ
2. ^ Trang giới thiệu về Lâm Thị Mỹ Dạ trên trang web của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam
3. ^ Gương mặt tác giả, Nhà xuất bản Kim Đồng.
Ngọc Liên
Theo Bách khoa toàn thư mở
Bài thơ " Khoảng trời hố bom "
Chuyện kể rằng: Em, cô gái mở đường
Ðể cứu
con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe
kịp giờ ra trận
Em đã
lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Ðánh lạc
hướng thù, hứng lấy luồng bom...
Ðơn
vịtôi hành quân qua con đường mòn
Gặp
hố bom nhắc chuyện
người con gái
Một
nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá,
Tình yêu thương
bồi đắp cao lên...
Tôi nhìn xuống
hố bom đã giết em
Mưa
đọng lại một khoảng trời nho nhỏ
Ðất
nước mình nhân
hậu
Có nước
trời xoa dịu vết thương đau.
Em nằm
dưới đất sâu
Như khoảng
trời đã nằm yên trong đất
Ðêm đêm, tâm
hồn em tỏa sáng
Những vì sao
ngời chói, lung
linh.
Có phải
thịt da em mềm mại, trắng trong
Ðã hóa thành
những làn mây trắng ?
Và ban
ngày khoảng trời ngập nắng
Ði qua khoảng
trời em - Vầng dương thao thức
Hỡi
mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực
Soi cho tôi
Ngày hôm nay
bước tiếp quãng đường dài ?
Tên con đường
là tên em gửi lại
Cái chết em xanh
khoảng trời con gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống
của em
Gương
mặt em, bạn bè tôi không biết
Nên mỗi
người có gương mặt em
riêng.
(1972)
Chuyện cổ nước mình
Tôi yêu chuyện cổ
nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì gặp người tiên độ trì
Mang theo chuyện cổ
tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
Rất công bằng, rất thông minh
Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang.
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà
Đẽo cày theo ý người ta
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì
Tôi nghe chuyện cổ
thầm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.
Đậm đà cái tích trầu cau
Miếng trầu đỏ thắm nặng sâu tình người
Sẽ đi qua cuộc đời tôi
Bấy nhiêu thời nữa chuyển dời xa xôi
Nhưng bao chuyện cổ trên đời
Vẫn luôn mới mẻ rạng ngời lương tâm.
1979
Anh đừng khen em
Lần đầu khi mới làm quen
Anh khen cái nhìn em đẹp
Trời mưa òa cơn nắng đến
Anh khen đôi má em hồng
Gặp người tàn tật em khóc
Anh khen em nhạy cảm thông
Thấy em sợ rét né giông
Anh khen sao mà hiền thế
Thấy em nâng niu con
trẻ
Anh khen em thật dịu dàng
Khi hôn lên trang thơ hay
Áp
trang sách vào mát ngực
Em nghe tim mình thổn thức
Thương người làm thơ đã mất
Trái tim giờ ở nơi đâu?
Khi đọc một cuộc đời buồn
Lòng em xót xa, ấm ức
Anh khen em giàu cảm xúc
Và bao điều nữa...? Anh khen
Em sợ lời khen của anh
Như sợ chiều về, hắt tối
Nhiều khi ngồi buồn một mình
Trách anh sao mà nông nổi
Hãy chỉ cho em cái kém
Để em nên người tốt lành
Hãy chỉ cho em cái xấu
Để em chăm chút đời anh
Anh ơi, anh có biết không
Vì anh, em buồn biết mấy
Tình yêu khắt khe thế
đấy
Anh ơi, anh đừng khen em!
WEBSITE DƯƠNG NGỌC LIÊN





